vanban.org

Bản án 71/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: xử chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Đặng Minh C.

Về con chung: Giao cháu Đặng Minh H1, sinh ngày 19/3/2015 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh Đặng Minh C. Anh Đặng Minh C có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền ngăn cản. Về án phí: chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đ…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hằng- Công ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: xử chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Đặng Minh C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP Hướng dẫn một số quy định tại…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ CỬA LÒ
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2020/HNGĐ- ST
Ngày: 30/9//2020
V/v Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ- TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: ông Hoàng Thế L

Các hội thẩm nhân dân: 1. ông Nguyễn Đức A

2. ông Chế Đình S

Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu H- Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò tham gia phiên tòa: bà Phan Thị Vân A- Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An mở phiên tòa sơ thẩm xét xử C khai theo thủ tục thông thường vụ án dân sự thụ lý số 45/2020/TLST- HNGĐ ngày 14/7/2020 về tranh chấp “Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2020/QĐXX- ST ngày 15/9/2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1991. Có mặt.

Nơi ĐKHKTT: xóm Sao Vàng, xã Kim Th, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.

2. Bị đơn: anh Đặng Minh C, sinh năm 1984 (vắng mặt lần thứ hai không có lý do).

Nơi ĐKHKTT: khối Hồng Phong, phường Nghi H, thị xã Cửa Lò, Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn- chị Nguyễn Thị H trình bày:

1. Về quan hệ tình cảm: chị Nguyễn Thị H và anh Đặng Minh C kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 17/3/2010 tại UBND xã Kim Th, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng tháng 3/2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không có cùng quan điểm sống và thường hay cãi cọ nhau, nên chị đã bỏ về sống cùng bố mẹ tại xã Kim Th, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An và anh chị sống ly thân từ đó cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị Nguyễn Thị H làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đặng Minh C.

Về con chung: chị và anh C có một con chung là Đặng Minh H1, sinh ngày 19/3/2015, hiện cháu H1 đang sống chung cùng chị. Sau khi ly hôn chị Nguyễn Thị H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Đặng Minh H1 và không yêu cầu anh Đặng Minh C cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản và các khoản nợ: chị và anh C không có tài sản chung và không vay nợ ai cũng như không cho ai vay nợ. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng nhưng anh Đặng Minh C không có mặt tại địa phương, do vậy không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật; nguyên đơn tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không có mặt tại địa phương do vậy không tiến hành hòa giải được.Viện kiểm sát không có ý kiến gì về mặt thủ tục tố tụng.

Về việc giải quyết vụ án: đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51, 56; Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điều 147 BLTTDS; điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Đặng Minh C; Về con chung: giao con chung là Đặng Minh H1, sinh ngày 19/3/2015, cho chị H trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng là phù hợp, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Đặng Minh C; Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu nên không xem xét; Về án phí: chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

Nguyên đơn- Chị Nguyễn Thị H có đơn yêu cầu ly hôn với anh Đặng Minh C, anh Đặng Minh C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường Nghi H, thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An. Căn cứ vào Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An thụ lý và giải quyết đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H là đúng quy định của pháp luật.

Bị đơn anh Đặng Minh C không có mặt tại địa phương, hiện tại anh C đi làm nhưng gia đình không rõ địa chỉ, bản thân anh Đặng Minh C khi đi khỏi địa phương không cho chị Nguyễn Thị H biết là anh đi đâu, chị Nguyễn Thị H đã cung cấp đúng địa chỉ đăng ký thường trú của anh Đặng Minh C và các giấy tờ khác như đăng ký kết hôn và giấy khai sinh của cháu Đặng Minh H1. Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho anh C nhưng anh không có mặt để tham gia phiên hòa giải, cũng như phiên tòa lần thứ nhất anh C vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa lần thứ hai anh Đặng Minh C vắng mặt không có lý do. Đây là trường hợp bị đơn cố tình dấu địa chỉ, do vậy Hội đồng xét xử không hoãn phiên tòa mà tiếp tục xét xử vụ án theo quy định pháp luật (Nghị quyết số 04/2017/NQ- HĐTP ngày 05/5/2017; Điều 227, 228 BLTTDS).

. Về nội dung vụ án:

2.1. Về quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị H và anh Đặng Minh C, chung sống với nhau có đăng ký kết hôn vào ngày 17/3/2010 tại UBND xã Kim Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Do vậy giữa Nguyễn Thị H và anh Đặng Minh C đã phát sinh quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống hạnh phúc đến khoảng tháng 3/2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không cùng quan điểm sống và vợ chồng hay cãi vã nhau. Sau khi mâu thuẫn xẩy ra chị Nguyễn Thị H đã bỏ về ngoại sống và vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Như vậy, đời sống chung vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được; nên chị Nguyễn Thị H xin được ly hôn anh Đặng Minh C là có căn cứ nghĩ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị H.

2.2.Về con chung: chị Nguyễn Thị H và anh Đặng Minh C có một con chung là cháu Đặng Minh H1, sinh ngày 19/3/2015. Kể từ ngày anh chị sống ly thân cho đến nay cháu H1 sống chung cùng với chị H. Do vậy, yêu cầu của chị H được trực tiếp nuôi con là phù hợp, nghĩ nên chấp nhận. Hiện anh C không có mặt tại địa phương và chị H không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung, do vậy tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Đặng Minh C. Anh Đặng Minh C có quyền và nghĩa vụ thăm non con chung, không ai được cản trở.

Tài sản chung và khoản nợ: theo trình bày của chị Nguyễn Thị H, vợ chồng không có tài sản chung, cũng như không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ và không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2.3. Về án phí: Căn cứ kho¶n 4 §iÒu 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; buộc Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 04/2017/NQ- HĐTP ngày 5/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Khoản 4 Điều 147; Điều 227, 228, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: xử chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Đặng Minh C.

2. Về con chung: Giao cháu Đặng Minh H1, sinh ngày 19/3/2015 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh Đặng Minh C. Anh Đặng Minh C có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền ngăn cản.

Về án phí: chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai thu số 0000353 ngày 09/7/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An. Chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Cỡ chữ