- Tranh chấp gì? án hình sự — "H trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo D Văn H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:71/2019/HS-ST Ngày: 03/4/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, TP.HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Phúc
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Chư
2. Ông Bùi Bá Huynh
-Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Duyên -Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm: Ông Lê Xuân Trường- Kiểm sát viên.
Ngày 03/4/2019, tại Trụ sở tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 73/2019/TLST-HS, ngày 14 tháng 3 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2019/QĐXXST-HS ngày 20/3/2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: D Văn H, sinh năm 1997; HKTT: thôn T, xã S, huyện T2, tỉnh Bắc Giang, nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá:0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông: D Văn T3 (đã chết); con bà: Nguyễn Thị Q, sinh năm 1974. Gia đình có 2 con, bị cáo là con thứ nhất. Tiền sự: Không. Tiền án: Tại bản án số 288/2017/HSST ngày 26/10/2017, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Hà Nội xử 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ra trại ngày 19/4/2018. Bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm. Danh chỉ bản số 30 do Công an thành phố Hà Nội lập ngày 20/12/2018. Bị cáo bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 11/12/2018. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số 1-Công an thành phố Hà Nội– Có mặt tại phiên tòa
Bị hại:
1.Chị Vũ Thị Kim T4, sinh năm 1997, HKTT: thôn M, xã G, G2, Ninh Bình.Hiện trú tại: M, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.
2. Chị Nguyễn Kim L, sinh năm 1968, HKTT: L1, phường L2, Ba Đình, Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:Do không có tiền tiêu sài nên khoảng 23 giờ ngày 12/11/2018, D Văn H đi bộ xung quanh khu vực đường Mễ Trì, Nam Từ Liêm, Hà Nội tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khoảng 0 giờ 30 ngày 13/11/2018, tại số nhà A, Mễ Trì, Nam Từ Liêm, Hà Nội, H phát hiện 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision BKS: 35B2-X(số khung: 323953, số máy: 0324000) của chị Vũ Thị Kim T4 không khóa cổ xe, không có ai trông giữ nên đã dắt trộm chiếc xe trên ra khu vực bến xe Mỹ Đình để thuê một người lái xe ôm (không xác định) đẩy về khu vực vườn H2 Hàng Đậu thuộc địa phận quận Hoàn Kiếm, Hà Nội đánh chìa khoá để sử dụng. Đến ngày 10/12/2018, trên đường H mang xe máy đi tiêu thụ tại khu vực Phúc Tân, Hoàn Kiếm, Hà Nội thì bị Phòng Cảnh sát hình sự - CATP Hà Nội kiểm tra đưa về trụ sở làm rõ.
Quá trình điều tra còn làm rõ D Văn H đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nữa đó là:
Khoảng 23 giờ 30 ngày 10/11/2018, D Văn H đến khu tập thể số H2, Ba Đình, Hà Nội với mục đích trộm cắp tài sản, phát hiện xe máy nhãn hiệu Yamaha Cygnus BKS: 30F1-X2 (số khung: 213187, số máy: 213236) của chị Nguyễn Kim L không khoá cổ nên H đã dắt trộm chiếc xe trên và mang về gửi tại bãi xe bốt Hàng Đậu, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Sau đó, H thông qua Vũ Thị Thanh H2 (sinh năm: 1979, HKTT: Phúc Tân, Hoàn Kiếm, Hà Nội) bán chiếc xe này cho một người đàn ông tên H3 (không xác định được nhân thân tại khu vực gầm cầu Long Biên, Phúc Xá, Ba Đình, Hà Nội) với giá 2.500.000 đồng.
Ngoài ra, D Văn H còn khai nhận đã thực hiện 08 vụ trộm cắp xe máy các loại khác trên các địa bàn quận Nam Từ Liêm, H Mai, Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm, Ba Đình, Cầu Giấy, Cơ quan điều tra đã xác minh, làm rõ nhưng không xác định được người bị hại, hiện không thu được vật chứng của 08 vụ trộm cắp nêu trên do đó không có căn cứ xử lý. Sau khi trộm cắp được tài sản nêu trên, D Văn H đem tiêu thụ cho các đối tượng H Mạnh C và Trần Văn D và L, Hiếu, Minh, Giang (không rõ nhân thân lai lịch). Tại Cơ quan điều tra, D và C khai không mua bán chiếc xe máy nào với H do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.
Đối với Vũ Thị Thanh H2 là người giới thiệu H bán xe cho H3, tuy nhiên H2 không biết chiếc xe do H trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm đối với H2.
Vật chứng thu giữ:
- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision BKS: 35B2-X;
- 01 xe máy xe máy nhãn hiệu Yamaha, số khung: 213187, số máy:
213236
Tại Kết luận định giá tài sản số 55, 56 ngày 11/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận Nam Từ Liêm, Hà Nội xác định:
-01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision, số khung: 323953, số máy: 0324000, xe đã qua sử dụng trị giá 26.500.000 đồng.
- 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Cygnus, số khung: 213187, số máy: 213236, xe đã qua sử dụng trị giá 4.000.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản D Văn H trộm cắp: 30.500.000 đồng.
Ngày 18/12/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Nam Từ Liêm đã trao trả 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision, 01 xe máy nhãn hiệu YamahaCygnus cho chị Vũ Thị Kim T4 và Nguyễn Kim L, chị T4 và chị L không yêu cầu bồi thường về dân sự.
Tại bản Cáo trạng số 90/CT-VKS ngày 11/3/2019, Viện kiểm sát nhân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo D Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, xác nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân của bị cáo đã kết luận giữ quan điểm như cáo trạng truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo D Văn H từ 18 đến 24 tháng tù.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 23 giờ ngày 10/11/2018, tại khu tập thể số H, Ba Đình, Hà Nội, D Văn H trộm cắp 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Cygnus trị giá 4.000.000 đồng của chị Nguyễn Kim L.
Khoảng 0 giờ 30 ngày 13/11/2018, tại số nhà A, Mễ Trì, Nam Từ Liêm, Hà Nội, D Văn H trộm cắp 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision trị giá 26.500.000 đồng của chị Vũ Thị Kim T4.
Tổng giá trị tài sản D Văn H trộm cắp là 30.500.000 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015. Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, phù hợp pháp luật.
Đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã thu hồi trả lại cho người bị hại, do vậy bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Bị cáo nhân thân xấu, đã có tiền án chưa được xóa án tích nên phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm; bị cáo phạm tội nhiều lần do đó bị cáo phải chịu các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g,h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự 2015
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên thì phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn trong khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 18/12/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Nam Từ Liêm đã trao trả 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision, 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Cygnus cho chị Vũ Thị Kim T4 và Nguyễn Kim L, do đó chị T4 và chị L không yêu cầu bồi thường về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Các vật chứng thu giữ đã được trả lại trong quá trình điều tra nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo D Văn H là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về đề nghị của Viện kiểm sát đối với vụ án: Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: xét thấy Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng đều hợp pháp, đảm bảo việc điều tra, truy tố vụ án đúng quy định. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại không khiếu nại gì về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173, Điểm s Khoản 1Điều 51, Điểm g, h Khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015; Khoản 2 Điều 136, Khoản 1 Điều 331, Khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên bố: Bị cáo D Văn H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo D Văn H 24(hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/12/2018.
Về án phí: Bị cáo D Văn H phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo,bị hại; - TT lý lịch-Sở tư pháp Hà Nội; - VKSND Q. Nam Từ Liêm - VKSND thành phố Hà Nội - TAND thành phố Hà Nội - Công an quận Nam Từ Liêm - Chi cục THADS Q. Nam Từ Liêm; - Lưu HS-VP | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Tạ Thị Phúc |