vanban.org

Bản án 71/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 22/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố Ngô Văn H phạm tội:“Hiếp dâm” và phạm tội “Cướp tài sản”.

Xử phạt ;Ngô Văn H 03 năm tù về tội “Hiếp dâm”; và 04 năm 06(Sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”.Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 07 (Bẩy) năm 06( Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 12/11/2018. Về trách nhiệm dân sự:Á… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hùng hiếp dâm - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố Ngô Văn H phạm tội:“Hiếp dâm” và phạm tội “Cướp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 141 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HIỆP HÒA
TỈNH BẮC GIANG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2019/HS-ST
Ngày 22/10/ 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Vinh

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Xuân Hoàng

Bà Hoàng Thị Kim Oanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hoan- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dânhuyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung- Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa đãxét xử công khaivụ án hình sự sơ thẩmthụ lý số: 55/2019/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2019/QĐXXST-HS ngày 7 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Ngô Văn H, sinh năm 1990 giới tính: Nam;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Đông Lâm, xã Hương Lâm, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Tự do;trình độ văn hoá : Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông:Ngô Văn Thiệp, sinh năm 1963,con bà: Chu Thị Đảm, sinh năm 1963; vợ: Phạm Thị Thu, sinh năm 1990, bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/11/2018 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang- Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Trần Thị Ng, sinh năm 1992; có mặt Địa chỉ: Thôn Cẩm Trung, xã Xuân Cẩm, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại;

Luật sư Ngô VănV, văn phòng luật sư Lâm Hà; Đoàn luật sư TP Hà Nội

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Chị Phạm Thị T, sinh năm 1990; Có mặt Địa chỉ: Thôn Đông Lâm, xã Hương Lâm, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người làm chứng:

1. Anh Ngô Văn D, sinh năm 1992; Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn Đông Lâm, xã Hương Lâm, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc

Giang

2. Anh Ngô Văn H, sinh năm 1992; vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn Đông Lâm, xã Hương Lâm, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc

Giang

3. Chị Ngô Thị H, sinh năm 1987; Có mặt

Địa chỉ: Tổ 6, xã Quang Minh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Hội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 10/11/2018, Ngô Văn H, sinh năm 1990 ở thôn Đông Lâm, xã Hương Lâm, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang một mình đi bộ trên đường Tỉnh lộ 295 theo hướng từ thôn Ngọ Xá, xã Châu Minh, huyện Hiệp Hòa về nhà. Khi H đi bộ được khoảng 100 mét thì gặp chị Trần Thị N, sinh năm 1992 ở thôn Cẩm Trung, xã Xuân Cẩm, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đang đỗ xe mô tô biển kiểm soát 98D1-175.31 tại dìa đường bên trái khu vực không có dân cư và ngược chiều theo hướng đi của H (chị N đỗ xe để cởi áo mưa). H đi đến chỗ chị Nvà hỏi đi nhờ xe nhưng chị N không đồng ý. Thấy H có mùi rượu nên chị N sợ bỏ chạy về phía có nhà dân gần đó. Khi chị N chạy được khoảng 02 (hai) bước thì H chạy đuổi theo từ phía sau, H dùng tay túm vào mũ áo khoác của chị Nvà giật mạnh làm chị Nngã xuống rìa đường tiếp giáp với cánh đồng. Ngay lúc đó, H lao đến đè ngửa chị N ra ruộng lúa đã cắt và dùng tay trái bịt miệng, tay phải đấm và tát nhiều cái vào vùng mặt chị N. Hnói: “Anh chỉ muốn hiếp em, nếu kêu lên anh đánh chết”. H dùng tay phải cởi khóa quần dài chị N đang mặc kéo xuống thì chị N nói: “Anh ơi, em có tiền đấy, anh lấy rồi tha cho em”. Hnói: “Tiền đâu?”, chị N lấy từ túi quần bên phải ra số tiền hơn 600.000 đồng (gồm 01 tờ mệnh giá 500.000 đồng, 02 tờ mệnh giá 50.000 đồng, một ít tiền lẻ và 01 chiếc điện thoại Iphone 6 Plus). Thấy vậy, H giật lấy tiền, điện thoại đút vào túi áo khoác H đang mặc và nói: “Giờ anh chỉ muốn hiếp em thôi”, đồng thời H dùng tay phải túm, giật rách chiếc quần lót chị N đang mặc. Chị Nnói: “Anh tha cho em, em đang ngày kinh”. H dùng các ngón tay phải của mình chọc vào trong âm hộ chị N 02 - 03 lần, khi bỏ tay ra H thấy có máu. Biết chị N đang ngày hành kinh nên dừng lại, đứng dậy đi lên rìa đường và lấy chiếc xe mô tô của chị Nga đi về nhà. Trên đường đi, H đã làm rơi chiếc điện thoại Iphone 6 Plus của chị N. Tại nhà, H đã dùng 01 (một) chiếc tô vít tháo dời biển kiểm soát của chiếc xe và cất giấu tại nhà. Sau đó, H thay quần áo và đi bộ ra ngoài và gặp anh Tạ Văn Hợp, sinh năm 1993 ở cùng thôn, H nhờ anh Hợp chở đến quán karaoke “New Star” ở thôn Ngọ Xá, xã Châu Minh, huyện Hiệp Hòa để gặp anh Ngô Văn Duyệt, sinh năm 1992 là người cùng thôn đang hát tại quán. Khi gặp nhau, thì anh Duyệt có nói với H: “Công an tìm mày đấy”, nghe vậy Hquay ra bảo anh H chở H về nhà. Khi về đến nhà, H bảo em trai là Ngô Văn Hoàn, sinh năm 1992 chở sang thôn Hạc Lâm, xã Hương Lâm, huyện Hiệp Hòa. Trên đường đi H nói với Hoàn: “Anh làm sai pháp luật rồi”, Hoàn nói: “Anh làm sai cái gì” thì Hnói: “Anh vừa lấy cái xe để ở cây hương gần nhà, giờ Công an biết rồi, mày tẩu tán lái xe đi giúp anh”. Hoàn nói: “Việc này em không giúp được đâu, anh ra đầu thú đi”. Sau đó, H đi bộ một mình vào thôn Hạc Lâm, xã Hương Lâm. Sáng ngày 11/11/2018, H bắt xe khách đến nhà chị gái là Ngô Thị Hằng, sinh năm 1987 ở tổ 5, xã Quang Minh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội. Đến nhà chị Ngô Thị Hằng khoảng 17 giờ H có nói với chị Hằng về việc H lấy xe, chị Hằng đã khuyên H về Công an đầu thú. Đến ngày 12/11/2018, Ngô Văn H đã đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, số tiền khoảng 610.000 đồng H cướp được của chị Nga, H đã tiêu xài cá nhân hết. Khi ra đầu thú, Hgiao nộp 01 (một) chiếc tô vít dài 32cm (chuôi nhựa màu vàng - đỏ dài 09cm), H khai đây là chiếc tô vít H sử dụng để tháo biển kiểm soát chiếc xe mô tô của chị N.

Ngay sau khi sự việc xảy ra, chị N đã đến nhà dân gần đó nhờ báo Công an xã Châu Minh và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa. Nhận được tin báo, cùng ngày 10/11/2018 Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường và đưa chị N đến Bệnh viện đa khoa huyện Hiệp Hòa khám và điều trị, Kết quả khám nghiệm hiện trường thu giữ: 01 (một) đôi tông nam màu xanh, 01 (một) quần lót màu đỏ bị rách, 01 (một) mảnh quần lót màu đỏ, 01 (một) mũ bảo hiểm nửa đầu, 01 (một) mũ áo khoác và 01 (một) khẩu trang.

Cùng ngày 10/11/2018, chị Phạm Thị Thu, sinh năm 1990 ở thôn Đông Lâm, xã Hương Lâm, huyện Hiệp Hòa (là vợ H) giao nộp cho Cơ quan điều tra chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision có số khung 263117, số máy 0280388, 01 (một) biển kiểm soát 98D1-175.31, 01 (một) đăng ký xe mô tô 98D1-175.31, 01 (một) áo khoác dài tay màu xanh rêu và 01 (một) quần soóc màu xanh. Chị Thu trình bày đây là chiếc xe do Hùng mang về và quần áo Hùng mới thay để lại.

Tại kết luận định giá số 29/KL-HĐĐG,Ngày 16/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hiệp Hòa kết luận: chiếc xe mô tô nhãn hiệu Vision màu nâu biển kiểm soát 98D1-175.31 trị giá 10.000.000 đồng; chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu sáng bạc trị giá 4.000.000 đồng.

Ngày 13/11/2018, Cơ quan điều tra tiến hành cho Ngô Văn H nhận dạng đôi dép tông và chị Trần Thị Nnhận dạng chiếc mũ bảo hiểm thu giữ tại hiện trường, kết quả: H nhận dạng được đôi dép tông và xác định là dép của mình. Chị N nhận dạng được chiếc mũ bảo hiểm và xác định là mũ của mình. Ngày 19/11/2018, Cơ quan điều tra cho chị Trần Thị N nhận dạng đối với Ngô Văn Hqua ảnh. Kết quả: Chị N nhận dạng được H là người đã thực hiện hành vi Hiếp dâm và Cướp tài sản của chị.

Ngày 16/11/2018, Cơ quan điều tra tiến hành cho Ngô Văn H thực nghiệm lại toàn bộ hành vi hiếp dâm, cướp tài sản của chị Nga, kết quả H thực hiện thành thục hành vi theo lời khai của bản thân và phù hợp lời khai của người bị hại.

Kết luận giám định số 8621/18/TD ngày 17/12/2018, Trung tâm pháp y tỉnh Bắc Giang, kết luận: Màng trinh có sẹo rách cũ hướng 3 giờ, 6 giờ, 9 giờ; Các ngón tay gây ra được tổn thương ở môi lớn bên phải.

Về vật chứng của vụ án: Ngày 14/12/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hiệp Hòa đã trả lại chị Trần Thị N là chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision có số khung 263117, số máy 0280388, 01 (một) biển kiểm soát 98D1-175.31 và 01 (một) đăng ký xe mô tô 98D1-175.31 mang tên Trần Thị N.

Từ hành của Ngô Văn H cáo trạng số 17/CT-VKS- HH ngày 30/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Ngô Văn H ra trước Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang để xét xử về hai tội; Tội “Hiếp dâm” theo khoản 1 Điều 141 và tội “Cướp tài sản”theo khoản 1 Điều 168 của Bộ luật hình sự.

Tại bản án sơ thẩm số 14/2019/HSST ngày 27/02/2019 của tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa đã xử H 07 năm tù cho hai tội và buộc bồi thường. Không đồng ý với bản án chị N kháng cáo. Tại bản án phuc thẩm số 85/2019/HSPT ngày 17/7/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm 14/2019/HSST ngày 27/02/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa giao cho Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa xét xử lại theo thủ tục chung.

Tại phiên tòa công khai sơ thẩm, bị cáo Hthừa nhận đã có hành vi hiếp dâm và cướp tài sản như cáo trạng truy tố và nội dung vụ án đã tóm tắt nêu trên, bị cáo rất hối hận về việc làm của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị hại (chị Trần Thị N) trình bày: khoảng 18 giờ 30 phút ngày 10/11/2018 ở khu vực giáp danh giữa xã châu Minh và xã Hương Lâm chị đang đứng để cởi áo mưa thì H đi đến và hỏi đi nhờ do sợ nên chị bỏ chạy, Hùng túm áo giật mạnh chị lại và làm chị ngã ngửa sau đó Hđã đè lên chị, H vừa bịt miệng vừa đấm và tát nhiều cái vào vùng mặt chị và nói: “Anh chỉ muốn hiếp em, nếu kêu lên anh đánh chết”. H dùng tay cởi khóa quần dài chị N đang mặc kéo xuống thì chị N nói: “Anh ơi, em có tiền đấy, anh lấy rồi tha cho em”. H nói: “Tiền đâu?”, chị lấy ra số 610.000 đồng và 01 chiếc điện thoại Iphone 6 Plus. Thấy vậy, Hgiật lấy tiền, điện thoại đút vào túi áo và nói: “Giờ anh chỉ muốn hiếp em thôi”đồng thời H dùng tay phải túm, giật rách chiếc quần lót chị đang mặc. Chị nói: “Anh tha cho em, em đang ngày kinh”H dùng các ngón tay chọc vào trong âm hộ chị 02 - 03 lần. Sau đó H đứng dậy đi lên rìa đường và lấy chiếc xe mô tô của chị rồi bỏ đi. Nay chị xác định H đã hiếp dâm chị và cướp tài sản của chị. Chị đề nghị xử lý Htheo quy định của pháp luật và yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho chị gồm: Tiền do mất điện thoại tiền 4.000.000đ, 610.000đ, tiền thuốc 1.000.000đ, tiền mất thu nhập của chị 5.000.000đ ngoài ra chị yêu cầu tiền tổn thất về tinh thần của chị và người thân cũng như tiền khác theo pháp luật là 60.000.000đ.

Luật sự bảo vệ quyền và lợi ích cho bị hại cũng yêu cầu bị cáo phải bồi thường tổn thất về tinh thần của chị N và người thân cũng như bồi thường danh dự nhân phẩm, tiền khác theo pháp luật là 60.000.000đ.

Chị Thu trình bầy: chị là vợ anh H ngày 10/11/2018 chị thấy có chiếc xe may để ở nhà nên chị đã giao nộp cho cơ quan Công an chị không biết xe đó là do chồng chị Phạm tội mà có. Ngoài ra ngày tháng chị không nhớ do Hchồng chị bảo nộp tiền trả cho bị hại nên chị đã nộp tại cơ quan thi hành án 6.200.000đ để trả cho bị hại nay chị xác định tiền đố để trả cho bị hại chị không yêu cầu gì.

Chị Hằng trình bầy: H là em chị chiều tối ngày 11/11/2019 H có đến nhà chị và có nói với chị về việc vi phạm pháp luật sau đó chị đã động viên Hùng về đầu thú cho nên ngày 12/11/2018 H đã về công an huyện Hiệp Hòa đầu thú.

Anh Hoàn vắng mặt tại phiên tòa lời khai tại cơ quan điều tra anh trình bầy: khoảng ngày 10/11/2019 Hcó nhờ anh đưa H sang thôn Hạc Lâm khi đến ngã ba H nói với anh là “Anh vừa lấy cái xe để ở cây hương gần nhà, giờ Công an biết rồi, mày tẩu tán lái xe đi giúp anh”. anh nói: “Việc này em không giúp được đâu, anh ra đầu thú đi” sau đó H xuống xe và bỏ đi. Nay anh xác định đã khuyên H đầu thú cho nên H đã đầu thú.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa giữ nguyên quan điểm như cáo trạng truy tố bị cáo về tội Hiếp dâm theo” khoản 1 Điều 141 và tội “Cướp tài sản”, theo khoản 1 Điều 168 của Bộ luật hình sự. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố Ngô Văn H phạm tội:“Hiếp dâm” và phạm tội “Cướp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 141, Điều 15, khoản 3 Điều 57 đối với tội “Hiếp dâm”, khoản 1 Điều 168, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 55 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt;Ngô Văn H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Hiếp dâm”; và từ 04 năm 06 tháng tù đến 05 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội từ 06 năm 06 tháng tù đến 07 năm 06 tháng tù,thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 12/11/2018

- Về trách nhiệm dân sự:Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 30 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 589, Điều 590, 592 của Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo: Ngô Văn H phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Trần Thị N gồm:Tài sản không thu hồi được tiền mặt 610.000đ, điện thoại di động Iphone 6 plus 4.000.000đ, số tiền viện phí điều trị 1.000.000đ, tiền mất thu nhập của chị N 5.000.000đ và tiền tổn thất về danh dự nhân phẩm, tiền tổn thất về tinh thần tổng từ 18.000.000đ cho đến 21.000.000đ. Xác nhận bị cáo H đã tự nguyện nộp số tiền 6.200.000đtại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa để bồi thường cho chị N theo Biên lai thu tiền số AA/2015/0001585 ngày 21/02/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa;

- Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác dài tay màu xanh rêu, 01 quần sóc màu xanh, phía trước ống quần có các vết xước, lỗ thủng; 01 đôi dép tông màu xanh nước biển, có hình lá cờ màu đỏ trắng ở cuối dép; 01 quần lót màu đỏ bị rách; 01 mảnh quần lót màu đỏ; 01 mũ bảo hiểm nửa đầu màu xanh nước biển có chữ Samsung ở sau mũ; 01 mũ áo khoác; 01 khẩu trang; 01 chiêc tô vít dài 32cm (chuôi vàng đỏ dài 9cm). Toàn bộ được niêm phong trong 03 thùng cát tông là vật chứng của vụ án do không còn giá trị sử dụng.

Về án phí; Áp dụng điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí lệ phí tòa án. Điều 136 Bộ luật tố tụng dân sự bị cáo Ngô Văn H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trình bầy bị cáo H đã có hành vi Hiếp dâm và cướp tài sản hơn nữa còn đánh bị hại mặc dù bị hại không đi giám định nhưng cũng gây thiệt hại về tinh thần đối với bị hại.Ngoài ra còn đề nghị bị cáo H bồi thường tiền mất thu nhập người nuôi, và tiền bồi dưỡng cũng như tiền bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại. Tiền bồi thường do sức khỏe bị xâm hại và tiền bồi thường tổn thất về tinh thần.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện cơ bản theo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra , truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật. Riêng kết luận điều tra trong quá trình đánh máy có sai sót về ngày tháng khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, cũng như việc thông báo kết luận điều tra cho bị hại cần rút kinh nghiệm. Ngoài ra người bảo vệ quyền và lợi ích cho bị hại đề nghị xem xét hành vi của anh Hoàn và chị Hằng xét thấy anh Hoàn và chị Hằng sau khi biết H có hành vi vi phạm pháp luật thì đã khuyên H ra đầu thú hơn nữa Hùng chỉ nói với anh Hoàn là anh vừa lấy chiếc xe để ở cây hương gần nhà giờ Công an biết rồi nhưng không nói rõ cụ thể việc H cướp xe của chị N như thế nào và cùng lúc đó anh Hoàn cũng khuyên H là ra đầu thú. Sau khi được chị Hằng , anh Hoàn động viên ra đầu thú cho nên H đã ra đầu thú vì vậy hành vi của anh Hoàn chị Hằng đã được xem xét và không có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm.

. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại Cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, quá trình bị cáo thực hiện hành vi phạm tội phù hợp với lời khai người làm chứng, lời khai của bị hại cũng như lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Bị cáo đã dùng vũ lực ngay tức khắc uy hiếp để thực hiện hành vi quan hệ tình dục trái với ý muốn của bị hại và chiếm đoạt xe máy, tiền và điện thoại là tài sản của bị hại tổng trị giá 14.610.000đ (mười bốn triệu sáu trăm mười nghìn đồng). Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Ngô Văn H phạm tội “Hiếp dâm” và tội “Cướp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 141 và khoản 1 Điều 168 của Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: ra đầu thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người và quyền sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang dao động và làm bất bình trong quần chúng nhân dân hơn nữa cùng một lúc đã phạm hai tội rất nghiêm trọng. Vì vậy, cần phải xử bị cáo với mức án thật nghiêm để giáo dục riêng và góp phần răn đe phòng ngừa chung. Xét về nhân thân; Bị cáo chưa có tiền án tiền, sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú và thành khẩn khai báo thực sự biết ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, tuổi đời còn trẻ vì vậy cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần về hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

- Về trách nhiệm dân sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường các tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt không thu hồi được tiền mặt 610.000đ, điện thoại di động Iphone 6 plus 4.000.000đ và tiền viện phí điều trị 1.000.000đ, tiền mất thu nhập của chị Nga 5.000.000đ bị cáo Hùng đồng ý xét là hoàn toàn tự nguyện cần chấp nhận. Xét bị hại và luật sự bảo vệ cho bị cáo yêu cầu bị cáo phải bồi thường tiền mất thu nhập người nuôi, và tiền bồi dưỡng cũng như tiền bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại. Tiền bồi thường do sức khỏe bị xâm hại và tiền bồi thường tổn thất về tinh thần xét thấy là có căn cư nhưng mức yêu cầu là cao bởi lẽ mức bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại hiện nay tối đa là 14.900.000đ xét thấy cần buộc bị cáo bồi thường cho bị hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại 14.900.000đ là phù hợp với điều 592 Bộ luật dân sự. Xét bị hại và luật sư yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần thấy rằng khi bị cáo dùng vũ lực không chế bị hại và đã đánh bị hại nhiều lần cho nên cần buộc bị cáo phải bồi thường tiền tổn thất về tinh thần cho bị hại xét thấy cần buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại trị giá bằng 4 tháng lương tối thiểu là 5.560.000đ là phù hợp với điều 590 Bộ luật dân sự. Ngoài ra bị hại còn yêu cầu tiền bồi dưỡng trong thời gian 20 ngày tính mức bồi dưỡng là 100.000đ/ ngày tổng là 2.000.000đ, tiền mất thu nhập của người nuôi trong 10 ngày mức bình quân hiện nay là 200.000đ/ ngày tổng là 2.000.000đ.

Như vậy tổng số bị cáo H phải bồi thường cho bị hại là 35.070.000đ là có cơ sở cần chấp nhận cho nên yêu cầu của bị hại và Luật sư bào chữa cho bị hại được chấp nhận một phần.

- Về vật chứng của vụ án:01 áo khoác dài tay màu xanh rêu, 01 quần sooc màu xanh, phía trước ống quần có các vết xước, lỗ thủng; 01 đôi dép tông màu xanh nước biển, có hình lá cờ màu đỏ trắng ở cuối dép; 01 quần lót màu đỏ bị rách; 01 mảnh quần lót màu đỏ; 01 mũ bảo hiểm nửa đầu màu xanh nước biển có chữ Samsung ở sau mũ; 01 mũ áo khoác; 01 khẩu trang; 01 chiêc tô vít dài 32cm (chuôi vàng đỏ dài 9cm). Toàn bộ được niêm phong trong 03 thùng cát tông là vật chứng của vụ án và không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị truy tố và mức án cũng như về dân sự, tang vật của vụ án cơ bản là phù hợp và có căn cứ, đúng pháp luật, phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố Ngô Văn H phạm tội:“Hiếp dâm” và phạm tội “Cướp tài sản”.

1.Căn cứ vào khoản 1 Điều 141, khoản 1 Điều 168, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 của Bộ luật hình sự; Điều 331; Điều 332, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Xử phạt ;Ngô Văn H 03 năm tù về tội “Hiếp dâm”; và 04 năm 06(Sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”.Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 07 (Bẩy) năm 06( Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 12/11/2018.

- Về trách nhiệm dân sự:Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 592, Điều 589, Điều 590 của Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo: Ngô Văn H phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Trần Thị N tổng số tiền là 35.070.000đ ( ba mươi lăm triệu không trăm bẩy mươi nghìn đồng). Xác nhận bị cáo H (do chị Phạm Thị T nộp thay) đã tự nguyện nộp số tiền 6.200.000đ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa để bồi thường cho chị N theo Biên lai thu tiền số AA/2015/0001585 ngày 21/02/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa; Bị cáo H còn phải bồi thường tiếp cho chị Nga số tiền 28.870.000đ (Hai tám triệu tám trăm bẩy mươi nghìn đồng). Chị Trần Thị N được nhận số tiền 6.200.000đ do bị cáo Hùng tự nguyện nộp để bồi thường tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa và số tiền bị cáo H phải bồi thường tiếp là 28.870.000đ.

- Về vật chứng: Áp dụng khoản 1Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác dài tay màu xanh rêu, 01 quần sooc màu xanh, phía trước ống quần có các vết xước, lỗ thủng; 01 đôi dép tông màu xanh nước biển, có hình lá cờ màu đỏ trắng ở cuối dép; 01 quần lót màu đỏ bị rách; 01 mảnh quần lót màu đỏ; 01 mũ bảo hiểm nửa đầu màu xanh nước biển có chữ Sam sung ở sau mũ; 01 mũ áo khoác; 01 khẩu trang; 01 chiêc tô vít dài 32cm (chuôi vàng đỏ dài 9cm). Toàn bộ được niêm phong trong 03 thùng cát tông là vật chứng của vụ án và không còn giá trị sử dụng.

Về án phí; Áp dụng điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí tòa án. Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Bị cáo Ngô Văn Hphải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.750.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất 10%/năm tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Báo cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt biết quyền được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quanvắng mặt được quyền được kháng cáo trong hạn 15 ngày được tống đạt bản án vắng mặt.

Cỡ chữ