vanban.org

Bản án 71/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 04/10/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/10/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

TAND cấp cao tại Hà Nội;

VKSND cấp cao tại Hà Nội; VKSND tỉnh Lạng Sơn; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hứa Văn H cùng đồng phạm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2019/HS-PT
Ngày 04-10-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Chu Long Kiếm;

Các Thẩm phán: Ông Lộc Sơn Thái;

Bà Nguyễn Thị Hoa.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Tống Văn Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 75/2019/TLPT-HS ngày 28 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo Đỗ Văn H cùng đồng phạm, do có kháng cáo của bị cáo Hứa Văn H và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2019/HS-ST ngày 21 tháng 5 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.

- Các bị cáo có kháng cáo, bị kháng nghị:

1. Hứa Văn H, sinh ngày 17/11/1987 tại xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Thôn C, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hứa Văn V và bà Trần Thị P; vợ, con: Chưa có; nhân thân: Chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo được tại ngoại; có mặt.

2. Đỗ Văn H, sinh ngày 25/5/1974 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã K, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Sán Dìu; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn H1 và bà Lưu Thị N; có vợ là Trần Thị C và 03 con; nhân thân: Chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 08/10/2018, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Hứa Văn H: Ông Nguyễn Trọng H - Luật sư Văn phòng Luật sư B, Đoàn Luật sư tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Trần Thị C, sinh năm 1971. Trú tại: Thôn P, xã K, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; vắng mặt. Ngoài ra trong vụ án còn có 03 bị cáo khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng giữa tháng 9/2018, Đỗ Văn H đến thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang chơi thì gặp một người đàn ông tên Quang ở thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc đến tìm đầu mối tiêu thụ đồ điện tử, điện lạnh. Do gia đình kinh doanh mặt hàng trên nên Đỗ Văn H làm quen và đặt vấn đề hợp tác làm ăn. Quang biết Đỗ Văn H đang trồng rừng tại khu vực biên giới xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn nên cuối tháng 9/2018, Quang gọi điện thoại nhờ Đỗ Văn H tìm mua pháo hộ và được Đỗ Văn H đồng ý, chiều ngày 05/10/2018 Đỗ Văn H nhờ Trần Văn T là người trông rừng thuê cho mình tìm mua pháo hộ. Trần Văn T đồng ý và đã gọi điện thoại với một người đàn ông Trung Quốc quen biết từ trước hỏi mua pháo thì người đó bảo có pháo bán. Sau đó Đỗ Văn H tiếp tục thông báo cho Quang thì Quang nhờ Đỗ Văn H mua hộ 100 hộp pháo hoa loại 36 ống để đốt và biếu trong dịp tết Nguyên đán, Đỗ Văn H đồng ý bảo Trần Văn T mua và vận chuyển pháo về xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn cho mình. Khoảng 15 giờ cùng ngày, Trần Văn T gọi điện thoại cho Hà Văn L và bảo tối sang Y, Trung Quốc chở khoảng 100 hộp pháo về khu vực Trạm hạ thế thôn X, xã Đ cho Trần Văn T với tiền công là 2.400.000 đồng, thì Hà Văn L đồng ý và rủ thêm Đàm Văn T lấy bè đi chở pháo cùng Hà Văn L, Đàm Văn T đồng ý. Sau đó Trần Văn T gọi cho người đàn ông Trung Quốc đặt mua 100 hộp pháo hoa loại 36 ống thì người đó bảo còn 05 thùng có 96 hộp, giá mỗi hộp pháo là 100.000 đồng, Trần Văn T đồng ý mua hết 96 hộp gồm 90 hộp mua hộ Đỗ Văn H còn 06 hộp Trần Văn T tự mua rồi hẹn đến tối sang lấy pháo. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày tại lán của Đỗ Văn H, Trần Văn T báo cho Đỗ Văn H biết số lượng, giá cả số pháo Trần Văn T đặt mua và tiền công vận chuyển pháo hết 11.500.000 đồng, Đỗ Văn H gọi điện báo số lượng, giá cả và tiền công vận chuyển pháo cho Quang biết và được Quang đồng ý bảo Đỗ Văn H trả tiền trước hộ Quang nên Đỗ Văn H đưa cho Trần Văn T số tiền 11.500.000 đồng và bảo Trần Văn T đi lấy pháo. Khoảng hơn 18 giờ, ngày 05/10/2018 Trần Văn T gọi điện thoại cho Hà Văn L đi chở pháo rồi Trần Văn T đi xe máy đến bờ sông A thuộc xã Đ đối diện P, Trung Quốc. Nhận được điện thoại của Trần Văn T, Hà Văn L gọi điện thoại bảo Đàm Văn T đi xuống bờ sông thuộc xã Đ, để chở pháo, đồng thời Hà Văn L đi xe máy biển kiểm soát: 12T1-118** đến bờ sông. Đến nơi Hà Văn L để xe máy tại bụi tre gần đó, còn Đàm Văn T đi bộ đến cùng Hà Văn L chèo bè đến bờ sông đón Trần Văn T. Trần Văn T để xe máy ở bờ sông lên bè cùng Hà Văn L, Đàm Văn T sang bờ sông đối diện thuộc Trung Quốc gặp người đàn ông Trung Quốc đứng cạnh xe mô tô ba bánh chở 06 bao pháo đang đứng đợi sẵn. Trần Văn T lên bờ trả tiền mua pháo cho người đàn ông Trung Quốc hết 9.600.000 đồng rồi cùng Hà Văn L, Đàm Văn T bốc pháo lên bè đi về bờ sông phía Việt Nam để Trần Văn T vào bờ lấy xe máy về trước. Còn Hà Văn L cùng Đàm Văn T chèo bè chở pháo theo đường sông về xã Đ. Do số lượng pháo nhiều không chở được hết nên Hà Văn L gọi điện thoại cho Hứa Văn H đến hộ chở thì Hứa Văn H đồng ý và đi xe máy biển kiểm soát: 12K2-36** đến bờ sông gặp Hà Văn L và Đàm Văn T cùng bốc 06 bao pháo lên bờ, rồi Hà Văn L ra bụi tre gần đó lấy xe mô tô, còn Đàm Văn T đi bộ về nhà lấy xe mô tô biển kiểm soát: 12K3-72** đến chở pháo. Hà Văn L, Đàm Văn T và Hứa Văn H mỗi người đi một xe chở 02 bao pháo đến bãi đất gần Trạm hạ thế thì Hà Văn L gọi điện thoại cho Trần Văn T biết cùng Đỗ Văn H đến lấy pháo. Trần Văn T điều khiển xe máy đi trước, Đỗ Văn H lái xe ô tô biển kiểm soát: 22C-020** của mình đi theo sau. Đến nơi Đỗ Văn H quay xe rồi xuống mở thùng xe để Trần Văn T cùng Đàm Văn T và Hứa Văn H bốc 06 bao pháo lên xe, Đỗ Văn H trèo lên thùng xe hộ xếp gọn các bao pháo, bốc pháo xong Đỗ Văn H lái xe ô tô chở pháo về lán trồng rừng của Đỗ Văn H, Trần Văn T trả 2.400.000 đồng tiền công chở pháo cho Đàm Văn T rồi đi xe máy về sau Đỗ Văn H. Nhận tiền công xong Hà Văn L cùng Trần Văn T thỏa thuận chia cho Hứa Văn H 400.000 đồng, còn Hà Văn L và Đàm Văn T chia nhau mỗi người 1.000.000 đồng, xong rồi đi về. Đỗ Văn H lái xe chở pháo đến đằng sau lán thì Trần Văn T bảo Đỗ Văn H mở thùng xe để Trần Văn T lấy bao pháo chứa 06 hộp pháo Trần Văn T tự mua đi cất giấu phía sau lán rồi Đỗ Văn H đi ngủ, còn Trần Văn T đi về nhà. Được hai ngày sau Trần Văn T đã bán 06 hộp pháo cho một người đàn ông lạ mặt không rõ họ tên, địa chỉ với số tiền 800.000 đồng. Đến sáng ngày 06/10/2018 Đỗ Văn H gọi điện thoại báo cho Quang biết đã mua được 90 hộp pháo thì Quang bảo Đỗ Văn H chở số pháo trên đến thành phố M, tỉnh Cao Bằng với tiền công 2.000.000 đồng, Quang sẽ cho người ra nhận được Đỗ Văn H đồng ý. Khoảng 08 giờ, ngày 08/10/2018 Đỗ Văn H một mình điều khiển xe ô tô biển kiểm soát: 22C-02082 chở 05 bao tải đựng 05 thùng các tông chứa 90 hộp pháo đi từ lán trồng rừng ra Quốc lộ 4A rồi đi theo hướng đến Cao Bằng, khi đến huyện T, tỉnh Lạng Sơn thì bị Công an huyện Tràng Định bắt quả tang.

Tại Kết luận số 21/KL - PC09, ngày 09 tháng 10 năm 2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn, kết luận: Các mẫu vật gửi giám định thu giữ ngày 08/10/2018 của Đỗ Văn H tại huyện T, tỉnh Lạng Sơn đều có chứa thuốc pháo, khi đốt đều gây tiếng nổ.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2019/HS-ST ngày 21/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đã căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 191, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuyên bố các bị cáo Đỗ Văn H, Trần Văn T, Hà Văn L, Đàm Văn T, Hứa Văn H phạm tội Vận chuyển hàng cấm; xử phạt bị cáo Đỗ Văn H 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù; xử phạt bị cáo Trần Văn T 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù; xử phạt bị cáo Hà Văn L và Đàm Văn T 05 (năm) năm tù; xử phạt bị cáo Hứa Văn H 04 (bốn) năm tù. Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04/6/2019 bị cáo Hứa Văn H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn có Quyết định kháng nghị số 239/QĐ-VKSND đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị sửa án sơ thẩm tịch thu chiếc xe ô tô Ford biển kiểm soát 22C-020** của Đỗ Văn H, hóa giá nộp ngân sách Nhà nước theo quy định. Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Hứa Văn H giữ nguyên nội dung kháng cáo, xin được giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo Đỗ Văn H đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giữ nguyên Quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm về phần xử lý vật chứng và phần tội danh. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội Vận chuyển hàng cấm là không đúng tội. Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 355, Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; hủy Bản án sơ thẩm để điều tra lại theo thủ tục chung. Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo Hứa Văn H trình bày quan điểm: Ngay từ ban đầu, bị cáo Hứa Văn H chỉ được vận chuyển 02 bao pháo. Đối với 04 bao pháo còn lại vận chuyển bị cáo không được giúp sức và không có liên quan gì. Hành vi phạm tội của bị cáo là do thiếu hiểu biết pháp luật, phạm tội chỉ vì hám lợi nhất thời, phạm tội chưa đạt nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Chiều ngày 05/10/2018 Đỗ Văn H nhờ Trần Văn T tìm mua pháo hộ. Trần Văn T đồng ý và đã gọi điện thoại với một người đàn ông Trung Quốc hỏi mua pháo thì người đó bảo có pháo bán. Sau đó, Đỗ Văn H tiếp tục thông báo cho Quang thì Quang nhờ Đỗ Văn H mua hộ 100 hộp pháo hoa loại 36 ống để đốt và biếu trong dịp tết Nguyên đán, Đỗ Văn H đồng ý bảo Trần Văn T mua và vận chuyển pháo về xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn cho mình. Sau đó Trần Văn T gọi cho người đàn ông Trung Quốc đặt mua 100 hộp pháo hoa loại 36 ống thì người đó bảo còn 05 thùng có 96 hộp, giá mỗi hộp pháo là 100.000 đồng, Trần Văn T đồng ý mua hết 96 hộp gồm 90 hộp mua hộ Đỗ Văn H còn 06 hộp Trần Văn T tự mua rồi hẹn đến tối sang lấy pháo. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày tại lán của Đỗ Văn H, Trần Văn T báo cho Đỗ Văn H biết số lượng, giá cả số pháo Trần Văn T đặt mua và tiền công vận chuyển pháo hết 11.500.000 đồng, Đỗ Văn H gọi điện báo số lượng, giá cả và tiền công vận chuyển pháo cho Quang biết và được Quang đồng ý bảo Đỗ Văn H trả tiền trước hộ Quang nên Đỗ Văn H đưa cho Trần Văn T số tiền 11.500.000 đồng và bảo Trần Văn T đi lấy pháo.

Khoảng hơn 18 giờ, ngày 05/10/2018 Đàm Văn T cùng Hà Văn L chèo bè đến bờ sông thuộc xã Đ đón Trần Văn T. Trần Văn T lên bè cùng Hà Văn L, Đàm Văn T sang bờ sông đối diện thuộc Trung Quốc gặp người đàn ông Trung Quốc đứng cạnh xe mô tô ba bánh chở 06 bao pháo đang đứng đợi sẵn. Trần Văn T lên bờ trả tiền mua pháo cho người đàn ông Trung Quốc hết 9.600.000 đồng rồi cùng Hà Văn L, Đàm Văn T bốc pháo lên bè đi về bờ sông phía Việt Nam thuộc xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn.

Được hai ngày sau Trần Văn T đã bán 06 hộp pháo cho một người đàn ông lạ mặt không rõ họ tên, địa chỉ với số tiền 800.000 đồng. Đến sáng ngày 06/10/2018 Đỗ Văn H gọi điện thoại báo cho Quang biết đã mua được 90 hộp pháo thì Quang bảo Đỗ Văn H chở số pháo trên đến thành phố M, tỉnh Cao Bằng với tiền công 2.000.000 đồng, Quang sẽ cho người ra nhận được Đỗ Văn H đồng ý. Khoảng 08 giờ, ngày 08/10/2018 Đỗ Văn H một mình điều khiển xe ô tô BKS: 22C-020** chở 05 bao tải đựng 05 thùng các tông chứa 90 hộp pháo đi từ lán trồng rừng ra Quốc lộ 4A rồi đi theo hướng đến Cao Bằng, khi đến Km 50 + 831,01 thuộc huyện T, tỉnh Lạng Sơn thì bị Công an huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn bắt quả tang.

Như vậy, bị cáo Trần Văn T đã có hành vi mua bán trái phép hàng cấm, cụ thể là mua bán pháo nổ. Bị cáo Trần Văn T được Đỗ Văn H đưa tiền cho nhờ mua hộ pháo; Đỗ Văn H nhờ Trần Văn T mua hộ pháo cũng là mục đích mua hộ cho Quang. Bị cáo Trần Văn T đã có hành vi mua pháo của người Trung Quốc về bán lại cho người đàn ông lạ và mua hộ Đỗ Văn H. Hành vi phạm tội của Trần Văn T, Đỗ Văn H và đồng phạm có dấu hiệu phạm tội Buôn bán hàng cấm. Việc điều tra, truy tố, xét xử Đỗ Văn H và đồng phạm với tội danh Vận chuyển hàng cấm là chưa có căn cứ. Tội buôn bán hàng cấm có khung hình phạt nặng hơn tội Vận chuyển hàng cấm.

Để khắc phục những sai phạm trong hoạt động tố tụng điều tra nêu trên. Hội đồng xét xử thấy, cần hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2019/HS-ST ngày 21/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn để điều tra lại theo thủ tục chung.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh tham gia tại phiên tòa phù hợp với nhận định nêu trên, nên được chấp nhận.

Yêu cầu của bị cáo Hứa Văn H và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn sẽ được xem xét giải quyết khi xét xử lại vụ án.

Về án phí: Do hủy Bản án hình sự sơ thẩm nên bị cáo Hứa Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm f khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 21/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355, điểm a khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. 1. Hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số: 12/2019/HS-ST ngày 21/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn để điều tra lại. Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn để giải quyết theo thủ tục chung. 2. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ điểm f khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 21/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Hứa Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ./.

Cỡ chữ