vanban.org

Bản án 71/2018/HSST — Hình sự

TAND TX. Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 12/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt: Bị cáo Hà Văn T 9 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành bản án. Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn T - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TAND TỈNH THÁI NGUYÊN
TAND THỊ XÃ PHỔ YÊN
Bản án số: 71/2018/HSST
Ngày: 12/07/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHỔ YÊN

- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Toàn.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hồng Hà.

2. Bà Nguyễn Thị Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Chiều - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Vũ Xuân Hữu - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 12/07/2018, tại hội trường Toà án nhân dân thị xã Phổ Yên xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 60/2018/HSST ngày 21/05/2018; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/QĐXX-ST ngày 16/6/2018 đối với bị cáo:

Hà Văn T ; tên gọi khác: Không; sinh năm 1985.

Nơi cư trú: xóm Giã Thù 2, xã Tiên Phong, thị xã Phổ Yên, Thái Nguyên.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; tiền án, tiền sự: Không.

Con ông Hà Văn D (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; gia đình có 06 anh, chị em ruột, bị cáo là con thứ sáu; có vợ Đàm Thị D, sinh năm 1985; vợ chồng có 02 con chung, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2008.

Hiện bị cáo tại ngoại, không bị giam giữ ngày nào. Có mặt.

* Người chứng kiến: Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1968.

Nơi cư trú: Tổ dân phố Hoàng Thanh, phường Đồng Tiến, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 04/01/2018, Hà Văn T trên đường đi làm về đến khu vực cầu Tiên Phong, thuộc xã Tiên Phong, thị xã Phổ Yên, T có gặp một người nam giới không biết tên, tuổi, địa chỉ thuê T vận chuyển 06 hộp pháo dàn và 200 quả pháo trứng từ cầu Tiên Phong đến ngã tư thuộc tổ dân phố Hoàng Thanh, phường Đồng Tiến, thị xã Phổ Yên giao cho một người khác và lấy từ người này số tiền 8.300.000đ mang về đưa cho người nam giới, T được người nam giới trả cho 200.000đ tiền công, T đồng ý. Khoảng 18 giờ 45 phút cùng ngày, T thuê taxi mang số pháo trên đến ngã tư thuộc tổ dân phố Hoàng Thanh để giao hàng, khi chưa kịp giao thì bị lực lượng Công an thị xã Phổ Yên kiểm tra, phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ tang vật.

Vật chứng của vụ án thu giữ gồm: 01 bao tải dứa màu xanh, bên trong có 06 khối hình hộp vuông kích thước (14x14x14cm), bên ngoài mỗi khối hình hộp có 02 sợi dây liên kết (một dây màu xanh và một dây màu trắng), bên trong khối hình hộp có 36 vật hình trụ đường kính 02cm và 200 vật thể hình bóng đèn tròn, một đầu hình hình trụ, một đầu hình tròn, phía đầu hình trụ có gắn sợi dây màu xanh, theo T khai số hàng trên là pháo nổ, niêm phong số vật chứng trên (kí hiệu là A) theo quy định.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Phổ Yên tiến hành mở niêm phong số vật chứng kí hiệu A; Cân trọng lượng 06 khối hình hộp vuông trên được 8,2 kg và lấy ngẫu nhiên 01 khối hình hộp vuông niêm phong kí hiệu M; Cân trọng lượng 200 vật thể hình bóng đèn tròn trên được 7,2kg và lấy ngẫu nhiên 05 vật thể hình bóng đèn tròn niêm phong ký hiệu N gửi giám định; còn lại 05 khối hình hộp vuông và 195 vật thể hình bóng đèn niêm phong kí hiệu K lưu kho vật chứng.

Tại kết luận giám định số 423/KL- PC54, ngày 06/03/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: 01 khối hình hộp vuông kích thước (14x14x14) cm, bên trong mỗi khối hình hộp chữ nhật có 36 vật hình trụ đường kính 2cm, dài 14cm niêm phong ký hiệu M và 05 vật thể hình bóng đèn tròn, một đầu hình hình trụ, một đầu hình tròn niêm phong ký hiệu N gửi đến giám định đều là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo khi bị kích thích hoặc đốt có gây ra tiếng nổ).

Tại bản cáo trạng số 64/CT- VKSPY ngày 18/05/2018, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên đã truy tố Hà Văn T về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191BLHS năm 2015.

Tại phiên toà hôm nay, mặc dù bị cáo khai nhận hành vi của mình, tuy

nhiên khai báo còn quanh co, chưa thành khẩn.

Kết thúc phần thẩm vấn, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Hà Văn T và đề nghị HĐXX

* Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Hà Văn T 12 - 18 tháng tù.

* Hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

* Vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS 2015; Điều 106 BLTTHS.

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số pháo đã thu giữ còn lại sau giám định.

Bị cáo phải chịu án phí và được quyền kháng cáo theo quy định.

Trong phần tranh luận bị cáo thừa nhận việc truy tố và xét xử là không oan, đúng người, đúng tội. Lời nói cuối cùng của bị cáo hứa sửa chữa và xin được hưởng mức án thấp nhất.

Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà. căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, được đánh giá như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Phổ Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về việc đề nghị áp dụng quyết định truy tố vụ án theo thủ tục rút gọn. Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo tại phiên toà là khách quan, thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của người làm chứng, với vật chứng thu được và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử đủ căn cứ xác định: Hồi 17 giờ 30 phút,ngày 04/1/2018, Hà Văn T đã có hành vi vận chuyển 06 hộp pháo dàn và 200 quả pháo trứng có tổng trọng lượng 15,4kg cho một đối tượng T không biết tên, tuổi, địa chỉ từ Cầu Tiên Phong đến Ngã Tư thuộc tổ dân phố Hoàng Thanh, phường Đồng Tiến, thị xã Phổ Yên để giao cho khách với giá 8.300.000đ (T được người nam giới trả công 200.000đ). Khoảng 18h 45 phút cùng ngày, T thuê taxi vận chuyển số pháo trên theo yêu cầu của người nam giới trên thì bị Công an thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang.

Hành vi, ý thức của Hà Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội: Vận chuyển trái phép hàng cấm quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 BLHS năm 2015. Bản cáo trạng số 64/CT- VKSPY ngày 18/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phổ Yên truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Nội dung điểm c khoản 1 Điều 191 BLHS năm 2015 quy định:

“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc các trường hợp quy định tại các điều.. của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a)……….

c) Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;

……………………..

4.Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

Xét tính chất vụ án thấy: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo biết rõ pháo nổ là mặt hàng nhà nước cấm buôn bán, vận chuyển, kinh doanh nhưng do hám lợi đã dẫn bị cáo vào con đường phạm tội.

Xét nhân thân bị cáo thấy: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng không chịu rèn luyện bản thân, hành vi của bị cáo thể hiện tính coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó việc đưa ra xét xử đối với bị cáo là cần thiết để răn đe và phòng ngừa chung.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thấy: Tại phiên toà hôm nay mặc dù bị cáo khai báo còn quanh co, chưa được thành khẩn thể hiện chưa thực sự ăn năn hối cải, nhận thức được lỗi lầm của mình đã gây ra tuy nhiên vẫn xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cho bị cáo được hưởng thê, tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào.

Khi lượng hình thấy: Tuy bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, tính chất mức độ phạm tội không lớn, chưa có tiền án, tiền sự nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, pháo nổ được nhà nước đưa vào danh mục cấm sản xuất, buôn bán, vận chuyển từ lâu, hàng năm vào dịp tết, chính quyền đều tổ chức tuyên truyền, vận động và ký cam kết đến từng hộ gia đình, nhưng bị cáo do hám lợi, coi thường pháp luật. Sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS thấy cần có mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

Mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa xét thấy là có phần nghiêm khắc so với hành vi của bị cáo.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

Vật chứng của vụ án thu giữ còn lại sau giám định gồm: 13,8kg pháo để trong 01 thùng bìa catton, được niêm phong ký hiệu K còn lại sau giám định (hiện đang được lưu giữ tại Đại đội kho 29/PKT, Bộ chỉ huy Quân sự Tỉnh Thái Nguyên). Cần tịch thu tiêu hủy.

- Số tiền 200.000đ, T khai được người nam giới trả công, xét thấy số tiền trên là tiền thu lợi bất chính cần truy thu sung công quỹ Nhà nước.

Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí và được quyền kháng cáo theo quy định.

Trong vụ án này, theo Hà Văn T khai toàn bộ số pháo nổ mà Công an tra thu giữ là do T vận chuyển thuê cho một người nam giới không biết tên, địa chỉ. Hiện Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra xử lý sau

Bởi các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

1. Hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt: Bị cáo Hà Văn T 9 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành bản án.

2. Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

3. Vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.

- Tịch thu tiêu huỷ 13,8 kg pháo nổ còn lại sau giám định.

Giao cho Công an thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên chuyển số pháo trên từ Đại đội kho 29/phòng kỹ thuật/ Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Thái Nguyên về Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Phổ Yên, Thái Nguyên tiêu hủy số pháo trên theo quy định.

- Truy thu sung quỹ nhà nước số tiền 200.000đ của Hà Văn Tiến do thu lợi bất chính mà có.

4. Án phí: Căn cứ điều 135,136 BLTTHS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Hà Văn T phải chịu 200.000đ án phí HSST vào ngân sách nhà nước.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ