- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Văn L bị truy tố về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ…"
- Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU TỈNH ĐỒNG NAI -------------- Bản án số: 71/2017/HS-ST. Ngày: 29-11-2017. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Xuân Sơn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Bình
2. Bà Nguyễn Ngọc Hiệp
Thö kyù Toøa aùn ghi bieân baûn phieân toøa: Ông Nguyễn Văn Đô – Cán bộ Toøa aùn nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Ñoàng Nai.
Ñaïi dieän Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Ñoàng Nai tham gia phieân toøa: Ông Trần Thanh Tuất - Kieåm saùt vieân.
Ngaøy 29 thaùng 11 naêm 2017, taïi Nhà văn hóa khu phố 8, thị trấn M, huyện N, tỉnh P xeùt xöû sô thaåm lƣu động công khai vuï aùn hình söï thuï lyù soá: 70/2017/HSST ngaøy 31 thaùng 10 naêm 2017 ñoái vôùi bò caùo:
- Trương Văn L (tên thƣờng gọi: D), sinh năm 1975; taïi: tỉnh Bến Tre; Hộ khẩu thƣờng trú: tổ 10, khu phố 2, thị trấn M, huyện N, tỉnh P; chỗ ở hiện nay: tổ 10, khu phố 2, thị trấn M, huyện N, tỉnh P; ngheà nghieäp: làm thuê; trình độ văn hóa: 0/12; họ và tên cha: Trƣơng Văn M, sinh năm: 1949; họ và tên mẹ: Huỳnh Thị X, sinh năm: 1947; có vợ tên Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1977 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1995, con nhỏ nhất sinh năm 2010; gia đình bị cáo có 05 anh em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình; tiền án, tiền sự: không; về nhân thân: ngày 27/11/1997, Trƣơng Văn L bị Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xử phạt 10 năm 9 tháng 28 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản” và “Trốn khỏi nơi giam”. Đến ngày 18/3/2008 chấp hành xong hình phạt. Qua xác minh về án phí và trách nhiệm bồi thƣờng dân sự bản án trên, Cục thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre xác nhận không có hồ sơ thi hành án đối với Trƣơng Văn L theo Bản án số 95/HSST ngày 27/11/1997 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre. Căn cứ khoản 3 Điều 7, khoản 2 Điều 70 của Bộ luật Hình sự 2015, điểm a khoản 2 Điều 36 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2014), Công văn số 276/TANDTC-PC ngày 13/9/2016 của Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo L đƣơng nhiên đƣợc xóa án tích, nên bị cáo L đƣợc xác định không có tiền án.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/7/2017, chuyển tạm giam ngày 04/8/2017. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện Vĩnh Cửu.
* Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Văn N, sinh năm: 1992
Trú tại: tổ 15, khu phố 5, thị trấn M, huyện N, tỉnh P.
- Anh Lê Văn T, sinh năm: 1983
Trú tại: đƣờng số 47, thôn Trung Nghĩa, xã M, huyện N, tỉnh P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Bị can Trƣơng Văn L biết việc mua, bán “Bồ Đà” và ý thức rằng chất đó là chất ma túy, biết đó là chất cấm mua, bán và nhận thức đƣợc tác hại của chất ma túy, mua bán “Bồ Đà” là vi phạm pháp luật nhƣng nghĩ bán ma túy “Bồ Đà” chỉ bị xử nhẹ và hám lợi nên mua ma túy “Bồ Đà” về bán để kiếm lời.
Khoảng tháng 6/2017 đến ngày 26/7/2017, L mua 03 lần, mỗi lần từ 10 đến 40 bịch ma túy “dạng Bồ Đà” với giá 50.000 đồng/bịch về bán lại cho các con nghiện mỗi bịch 70.000 đồng/bịch để kiếm lời.
Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 26/7/2017, Công an huyện Vĩnh Cửu phối hợp với lực lƣợng Công an thị trấn Vĩnh An, huyện Vĩnh Cửu phát hiện bắt quả tang đối tƣợng Trƣơng Văn L đang bán ma túy (dạng Bồ Đà, Cần Sa) cho đối tƣợng nghiện Lê Văn T và Nguyễn Văn N tại nhà thuộc tổ 10, khu phố 2, thị trấn M, huyện N. T vào nhà hỏi L mua 200.000đ tiền ma túy (Bồ Đà, Cần Sa) thì L đồng ý nhận tiền và lấy 03 bịch ma túy (dạng Bồ Đà) cho T và N thì bị Công an phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.
* Tang vật thu giữ:
- Thu giữ 03 bích nilon, bên trong có chứa lá, cọng cây khô màu xanh (nghi là Bồ Đà, Cần Sa), đƣợc niêm phong có ký hiệu M1.
- Thu giữ 17 bích nilon, bên trong có chứa lá, cọng cây khô màu xanh (nghi là Bồ Đà, Cần Sa), đƣợc niêm phong có ký hiệu M2.
- Thu giữ 200.000đ (tiền L bán ma túy cho T).
* Biên bản kết luận giám định số: 297/PC54- GĐMT ngày 02/8/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự thuộc Công an tỉnh Đồng Nai kết luận:
- Mẫu M1 đƣợc niêm phong gửi đến giám định có trọng lƣợng là: 2,5892 gam. Có thành phần AB-FUBINACA không nằm trong danh mục chất ma túy và tiền chất ban hành kèm theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 và Nghị định số 126/2015/NĐ-CP ngày 09/12/2015 của Chính phủ.
- Mẫu M2 đƣợc niêm phong gửi đến giám định có trọng lƣợng là: 15,4675 gam. Có thành phần AB-FUBINACA không nằm trong danh mục chất ma túy và tiền chất ban hành kèm theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 và Nghị định số 126/2015/NĐ-CP ngày 09/12/2015 của Chính phủ.
Hoàn lại mẫu vật sau giám định có trọng lƣợng M1=1,5120gam, M2=14,0142 gam đƣợc niên phong.
Theo kết luận giám định trên thì số ma túy “Bồ Đà” nêu trên có thành phần AB-FUBINACA không nằm trong danh mục chất ma túy và tiền chất ban hành kèm theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 và Nghị định số 126/2015/NĐ-CP ngày 09/12/2015 của Chính phủ. Tuy nhiên bị cáo Trƣơng Văn L biết việc mua, bán “Bồ Đà” và ý thức rằng chất đó là chất ma túy, biết đó là chất cấm mua, bán và nhận thức đƣợc tác hại của chất ma túy.
Bị cáo Trƣơng Văn L 03 lần mua ma túy của đối tƣợng tên T (không rõ nhân thân) ở khu vực Hố Nai, mỗi lần từ 10 đến 40 bịch ma túy “dạng Bồ Đà” về để bán lại kiếm lời. Do không rõ đặc điển nhân thân nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu tiếp tục xác minh khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Taïi Caùo traïng soá: 71/CT-VKS-KSHS ngaøy 27 thaùng 10 naêm 2017, Vieän kieåm saùt nhân dân huyeän Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai truy toá bò caùo Trƣơng Văn L veà toäi: "Mua bán traùi pheùp chaát ma tuùy" theo khoản 1 Ñieàu 194 cuûa Boä luaät Hình sự năm 1999.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu giữ nguyên quan điểm truy tố, không thay đổi, bổ sung, rút quyết định truy tố và đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Trƣơng Văn L từ 18 tháng đến 24 tháng tù.
Trong phần xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, bị cáo thống nhất với quyết định truy tố và bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
1. Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Cửu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, ngƣời làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
2. Về nội dung:
Tại phiên tòa bị cáo Trƣơng Văn L đã khai nhận hành vi của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định, lời khai của ngƣời làm chứng và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, thể hiện đƣợc nội dung vụ án: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 26/7/2017, tại tổ 10, khu phố 2, thị trấn M, huyện N, tỉnh P, Trƣơng Văn L ý thức và biết rõ một loại lá, cọng cây khô màu xanh gọi là “Bồ Đà” là chất ma túy, chất gây nghiện, hƣớng thần mạnh bị cấm sử dụng, mua bán nhƣng vẫn mua về bán cho các đối tƣợng nghiện thu lợi bất chính. Khi L bán cho đối tƣợng Lê Văn T và Nguyễn Văn N 3 bịch ma túy với số tiền 200.000 đồng thì bị bắt quả tang.
Theo kết quả giám định loại lá, cọng cây khô màu xanh gọi là “Bồ Đà” có thành phần AB-FUBINACA không nằm trong danh mục chất ma túy và tiền chất ban hành kèm theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 và Nghị định số 126/2015/NĐ-CP ngày 09/12/2015 của Chính phủ. Nhƣng theo hƣớng dẫn tại Thông tƣ liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 và Thông tƣ liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015 cùng của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Tƣ pháp thì “nếu chất được giám định không phải là chất ma túy hoặc không phải là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, nhưng người thực hiện hành vi phạm tội ý thức rằng chất đó là chất ma túy hoặc chất đó là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, thì tùy hành vi phạm tội cụ thể mà truy cứu trách nhiệm hình sự người đó theo tội danh quy định tại khoản 1 của điều luật tương ứng đối với các tội phạm về ma túy”.
Từ đó có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trƣơng Văn L phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 cuûa Boä luaät Hình sự năm 1999, đƣợc hƣớng dẫn tại Thông tƣ liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 và Thông tƣ liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015 cùng của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Tƣ pháp nhƣ Cáo trạng soá: 71/CT-VKS-KSHS ngaøy 27 thaùng 10 naêm 2017 của Vieän kieåm saùt nhân dân huyeän Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai truy toá là có cơ sở.
Haønh vi phaïm toäi cuûa bò caùo laø nghiên trọng, nguy hieåm cho xaõ hoäi, ñaõ xaâm phaïm ñeán trật tự quản lý của nhà nƣớc về ma túy, laøm aûnh höôûng ñeán vieäc baøi tröø ma tuùy ôû ñòa phöông, gaây baát bình trong quaàn chuùng nhaân daân, gaây maát an ninh, traät töï trò an. Bị cáo là ngƣời có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức đƣợc tác hại của ma túy, các chất gây nghiện, hƣớng thần, vieäc mua bán ma tuùy, các chất gây nghiện, hƣớng thần mạnh khi chƣa đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền cho phép là trái pháp luật, nếu vi phaïm seõ bò tröøng trò raát nghieâm khaéc nhöng bò caùo vaãn baát chaáp, coá yù thực hiện hành vi phạm tội.
Khi quyết định hình phạt có xem xét:
- Về tình tiết tăng nặng: bị cáo Trƣơng Văn L không có tình tiết tăng nặng.
- Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình tham gia tố tụng, bò caùo L “Thaønh khaån khai baùo, aên năn hoái caûi”, có trình độ văn hóa thấp, nhận thức pháp luật kém nên đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ đƣợc quy định tại điểm p khỏan 1, 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự.
Trên cơ sở đó Hội đồng xét xử căn cứ tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên cần có mức án nghiêm, caùch ly bị cáo khỏi đời sống xaõ hoäi một thời gian ñeå caûi taïo, giaùo duïc, raên ñe và phòng ngừa chung.
- Về biện pháp tƣ pháp - xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 41 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy: mẫu vật sau giám định có trọng lƣợng M1 = 1,5120 gam, M2 = 14,0142 gam đƣợc niêm phong trong phong bì số 297/PC54-GĐMT ngày 02/8/2017;
+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nƣớc số tiền 200.000 (hai trăm ngàn) đồng bị cáo L thu lợi bất chính mà có.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/10/2017 và Biên lai thu số 0001877 ngày 30/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội bò caùo Trƣơng Văn L phaûi noäp 200.000 ñồng (hai trăm ngàn đồng) aùn phí hình söï sô thaåm.
4. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì caùc leõ treân.
QUYEÁT ÑÒNH:
1. Tuyeân boá bò caùo Trƣơng Văn L phaïm toäi “Mua bán traùi pheùp chaát ma tuùy”.
- AÙp duïng khoaûn 1 Ñieàu 194; Điều 33, ñieåm p khoaûn 1, khoản 2 Điều 46 cuûa Boä luaät Hình söï năm 1999; khoản 3 Điều 7, khoản 2 Điều 70 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017), điểm a khoản 2 Điều 36 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2014); Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/08/2000 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC; Thông tƣ liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 và Thông tƣ liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015 cùng của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Tƣ pháp.
- Xöû phaït bò caùo Trƣơng Văn L 02 (hai) năm tù, thôøi haïn tuø tính töø ngaøy 26/7/2017.
2. Về biện pháp tƣ pháp - xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 41 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: mẫu vật sau giám định có trọng lƣợng M1 = 1,5120 gam, M2 = 14,0142 gam đƣợc niêm phong trong phong bì số 297/PC54-GĐMT ngày 02/8/2017;
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nƣớc số tiền 200.000 (hai trăm ngàn) đồng bị cáo L thu lợi bất chính mà có.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/10/2017 và Biên lai thu số 0001877 ngày 30/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội bò caùo Trƣơng Văn L phaûi noäp 200.000 ñồng (hai trăm ngàn đồng) aùn phí hình söï sô thaåm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trƣơng Văn L đƣợc quyền khaùng caùo bản án này trong thời haïn 15 ngaøy keå töø ngaøy tuyeân aùn.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Sở Tƣ pháp tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện Vĩnh Cửu; - Công an huyện Vĩnh Cửu; - Chi cục THADS huyện Vĩnh Cửu; - Ngƣời tham gia tố tụng; - Lƣu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà (Đã ký và đóng dấu) Võ Xuân Sơn |