vanban.org

Bản án 71/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La Tuyên án 17/08/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vàng A V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Vàng A V 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 10/5/2017 (là ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam đối với bị cáo). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng A V phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự nă…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vàng A V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 194 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VÂN HỒ
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 71/2017/HSST
Ngày 17/8/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mùi Văn Huấn

Ông Tráng A Lứ.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Vinh - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Nhà văn hóa xã Suối Bàng, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 73/2017/HSST ngày 18 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo:

Vàng A V; tên gọi khác: Không; sinh năm 1976; trú tại: Bản P, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La; dân tộc: Mông; trình độ văn hoá: Không biết chữ; nghề nghiệp: Trồng trọt; con ông Vàng A P (đã chết); con bà Mùa Thị M (đã chết); có vợ là Lầu Thị V, sinh năm 1974 và 04 con, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 2000; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 10 tháng 5 năm 2017 cho đến nay bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người phiên dịch: Anh Sồng A P, sinh năm: 1985, trú tại: Tiểu khu 10, thị trấn M C, huyện M C, tỉnh Sơn La.

NHẬN THẤY

Bị cáo Vàng A V bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Hồi 13 giờ 00 phút ngày 10/5/2017, tổ công tác Công an huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại bản P, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La tiến hành kiểm tra đối với Vàng A V, sinh năm 1976, trú tại Bản P, xã V, huyện V, tỉnh Sơn La, quá trình kiểm tra phát hiện Vàng A V có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ là 01 gói nilon màu hồng bên trong đựng chất bột màu trắng. Vàng A V khai nhận đó là Hêrôin của Vàng A V tàng trữ mục đích để sử dụng cho bản thân. Căn cứ vào hành vi vi phạm, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng, dẫn giải Vàng A V về trụ sở Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vân Hồ để điều tra làm rõ.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra tiến hành cân tịnh, xác định trọng lượng 01 gói chất bột màu trắng thu giữ của Vàng A V có trọng lượng 0,19 gam, lấy 0,09 gam làm mẫu ký hiệu “V” trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy, loại chất ma túy.

Tại bản kết luận giám đinh số: 504/KLMT ngày 12/5/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã kết luận: “Mẫu gửi giám đinh ký hiệu “V” là chất ma túy; loại chất Hêrôin; trọng lượng của mẫu gửi giám định là 0,09 gam. Tổng trọng lượng ma túy thu giữ là 0,19 gam; loại chất Hêrôin”.

Tại cơ quan điều tra, bị cáo Vàng A V khai nhận: Do bản thân nghiện ma túy nên khoảng 12 giờ ngày 10/5/2017, bị cáo Vàng A V đi bộ một mình từ nhà vào bản P, xã V để tìm mua ma túy sử dụng. Tại đường dân sinh của bản P, xã V, bị cáo V đã gặp một người phụ nữ dân tộc Mông khoảng 20 tuổi không quen biết, hỏi mua được 01 gói Hêrôin gói bằng mảnh nilon màu hồng với giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy Vàng A V cất vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi bộ về nhà. Khi về đến đường dân sinh bản P, xã V thì gặp tổ công tác Công an huyện Vân Hồ yêu cầu kiểm tra, Vàng A V đã tự giác giao nộp gói Hêrôin cho tổ công tác.

Tại bản cáo trạng số 51/CT-VKS ngày 17/7/2017 của Viện kiểm sát nhân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Vàng A V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát huyện Vân Hồ giữ nguyên quyết định truy tố; qua phân tích, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vàng A V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015:

Xử phạt bị cáo Vàng A V từ 24 (hai mươi bốn) tháng tù đến 30 (ba mươi) tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Vàng A V.

Đề nghị áp dụng các điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đã được niêm phong bên trong đựng 0,1 gam Hêrôin cùng vỏ gói niêm phong ban đầu.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của Kiểm sát viên không có tranh luận gì, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý ý kiến của Kiểm sát viên, ý kiến của bị cáo.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa bị cáo Vàng A V khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Ngày 10/5/2017, bị cáo Vàng A V đã có hành vi tàng trữ 01 gói Hêrôin có tổng trọng lượng chất ma túy là 0,19 gam. Mục đích tàng trữ Hêrôin là để sử dụng cho bản thân. Trên cơ sở đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Vàng A V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự như quyết định truy tố và quan điểm luận tội tại phiên toà của Kiểm sát viên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cần vận dụng khoản 1 điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 có mức hình phạt tù từ hai năm đến bẩy năm tù đối với bị cáo mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị cáo đã nhiều lần được đi điều trị cai nghiện bắt buộc nhưng không giác ngộ, không lấy đó làm bài học rèn luyện bản thân mà tiếp tục mắc nghiện ma túy. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Điều 194 Bộ luật Hình Sự năm 1999 quy định:

1. “ Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.

Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 quy định :

1. “ Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.

a)...............................................................................................................

c). Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetaminne, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.

Như vậy, mức hình phạt đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 nhẹ hơn Điều 194 Bộ luật Hình sự 1999.

Căn cứ khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo, nhưng vẫn đảm bảo răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Bị cáo Vàng A V đang bị tạm giam, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, vận dụng khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Ngoài hình phạt chính là phạt tù bị cáo Vàng A V còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có tài sản có giá trị, không có thu nhập, không đủ điều kiện và khả năng thi hành, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với nguồn gốc 0,19 gam Hêrôin bị thu giữ, theo lời khai của Vàng A V mua của một người phụ nữ dân tộc Mông mà Vàng A V không quen biết nên không có căn cứ xử lý người đã bán ma túy cho Vàng A V.

Về vật chứng của vụ án: 01 phong bì đã được niêm phong bên đựng 0,1 gam cùng vỏ gói niêm phong ban đầu cần tuyên tịch thu để tiêu hủy.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Vàng A V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự 1999, Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015:

Xử phạt bị cáo Vàng A V 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 10/5/2017 (là ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam đối với bị cáo).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng các điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu để tiêu hủy: 01 phong bì đã được niêm phong ký hiệu V1 bên bên trong đựng 0,1 gam Hêrôin cùng vỏ gói niêm phong ban đầu.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ