- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị L và anh D"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Đình D.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 71/2017/HNGĐ-ST Ngày 29 – 12 - 2017 V/v ly hôn giữa chị L và anh D |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thịnh. Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lưu Thị Nhàn. Bà Bùi Thị Hạnh -Thƣ ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hằng, Thư ký tòa án nhân dân huyện Nam Trực.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Là - Kiểm sát viên. Ngày 29 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 125/2017/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2017 về việc "ly hôn, tranh chấp về nuôi con ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2017/QĐXX- HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2017 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1973 ( có mặt).
Địa chỉ: Số nhà 40/213 đường Mạc Thị B, phường T, Tp. Đ, tỉnh Nam Định.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Đình D, sinh năm 1972 (vắng mặt). Địa chỉ: Thôn Đ, xã X, huyện T, tỉnh Nam Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 02 tháng 10 năm 2017 và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Đình D kết hôn và đăng ký kết hôn tại UBND xã X vào tháng 12 năm 1994, trên cơ sở tự nguyện. Sau kết hôn, vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính tình không hòa hợp, vợ chồng thường xuyên xẩy ra xung đột. Anh D không no xây dựng kinh tế gia đình, không quan tâm đến chị và con chung. Chị và anh D đã sống ly thân từ năm 2009 cho đến nay. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên xin được ly hôn anh D.
Về nuôi con chung: Chị và anh D có 02 con chung là cháu Nguyễn Đình V, sinh ngày 20 tháng 12 năm 1995 và cháu Nguyễn Đình T, sinh ngày 24 tháng 7 năm 2001. Hiện nay cháu V đã trưởng thành, nên chị không có yêu cầu, đề nghị gì về việc nuôi dưỡng. Đối với cháu T, hiện nay đang do chị trực tiếp nuôi dưỡng. Sau ly hôn, chị đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T và không yêu cầu anh D phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị.
Về tài sản, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Việc thu thập các tài liệu có trong hồ sơ vụ án của Thẩm phán và hoạt động tố tụng tại phiên tòa của Hội đồng xét xử, đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
- Đề nghị xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Đình D.
- Về nuôi con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đình T, sinh ngày 24 tháng 7 năm 2001, anh Nguyễn Đình D không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho chị L.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Đình D là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại Điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Nguyễn Đình D.
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Đình D kết hôn có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2009, nguyên nhân là do giữa chị L và anh D bất đồng về quan điểm sống, chung sống không hoà hợp, anh D không chăm no đến kinh tế, cũng như đến chị L và con chung. Chị L và anh D đã sống ly thân từ năm 2009 cho đến nay. Điều đó chứng tỏ, tình cảm vợ chồng giữa chị L và anh D không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu xin ly hôn của chị L có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về nuôi con chung: Đối với 01 con chung chưa trưởng thành là cháu Nguyễn Đình T, sinh ngày 24 tháng 7 năm 2001, để đảm bảo quyền lợi của con chung nên chấp nhận yêu cầu của chị L, được tiếp tục nuôi dưỡng cháu T, anh D không phải có nghĩa cấp dưỡng nuôi cháu T cho chị L là phù hợp với quy định tại Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản, công nợ chung: Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, các đương sự không có yêu cầu, nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị L phải phải nộp án phí ly hôn theo quy định của của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 81và 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1.Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Đình D.
2.Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị L được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Đình T, sinh ngày 24 tháng 7 năm 2001. Anh Nguyễn Đình D không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị L. Anh Nguyễn Đình D có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở quyền này.
3.Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải nộp 300.000đ ( ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị L đã nộp theo Biên lai số 0001858 ngày 09 tháng 10 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
4. Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Đình D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì đương sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định; - VKSND Huyện Nam Trực.; - Chi cục THADS Huyện Nam Trực; - UBND xã X; - Các đương sự; - Lưu: HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( đã ký) Nguyễn Văn Thịnh |