vanban.org

Bản án 709/2021/HC-PT — Hành chính

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 20/12/2021 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/12/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Thanh L (Phạm Văn G).

1/ Hủy Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2012/HCST ngày 05/3/2012 của Tòa án nhân dân Quận A xét xử vụ án khiếu kiện quyết định hành chính về bồi thường giải phóng mặt bằng giữa người khởi kiện ông Phạm Thanh L (Phạm Văn G) và người bị kiện Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Giao … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện quyết định hành chính về bồi thường giải phóng mặt bằng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Thanh L (Phạm Văn G).
  • Căn cứ chính? Điều 1 Nghị quyết số 104/2015/QH13 Thi hành Luật tố tụng hành chính; Điều 220 Luật Tố tụng hành chính; Điều 225 Luật Tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 709/2021/HC-PT
Ngày: 20-12-2021
V/v khiếu kiện quyết định hành
chính về bồi thường giải phóng
mặt bằng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Quốc Thịnh

Các Thẩm phán:

Bà Lê Thị Tuyết Trinh

Bà Mai Thị Thanh Tú

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Thân Trọng Minh Phương - Kiểm sát viên.

Vào các ngày 07/12/2021 và ngày 20/12/2021 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 27/TLPT-HC ngày 23/4/2012 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính về bồi thường giải phóng mặt bằng”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2012/HCST ngày 05/3/2012 của Tòa án nhân dân Quận A bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4273/2021/QĐ-PT ngày 15/11/2021, giữa các đương sự:

Người khởi kiện: Ông Phạm Thanh L (Phạm Văn G), sinh năm 1941

Địa chỉ: 55/38 Nguyễn Chế N, Phường 13, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ La H, sinh năm 1965 (Giấy ủy quyền số công chứng 00009203 quyển số 01/2021.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 01/12/2021 của Văn phòng công chứng Thịnh Vượng) (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Ông Nguyễn Thanh G – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)

Địa chỉ: 470 Nguyễn P, Phường 9, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bị kiện: Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

Địa chỉ: 01 R, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông P – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt) (Quyết định số 872/QĐ-UBND ngày 20/12/2017) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Đoàn Nguyễn Đức T– Phó Trưởng Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng Quận A (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung bản án sơ thẩm: Người khởi kiện trình bày: Ông sử dụng diện tích đất 1.838m2 tại phường N, Quận A từ năm 1954 đến năm 1960. Sau đó ông tham gia cách mạng và để phần đất này lại cho gia tộc tiếp tục sử dụng. Đến trước năm 2001, gia tộc họp phân chia và ông được chia với diện tích 1.838m2. Ngày 21/10/2001, ông được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00421/QSDĐ/Q12/2001 với diện tích đất được công nhận sử dụng tổng cộng là 3.199m2, trong đó phần thửa 4025, tờ 2 là 1.810m2, tại thửa 4036, tờ 1 là 1.389m2. Ngày 24/6/2011, Ủy ban nhân dân Quận A ban hành Quyết định số 894/QĐ-UB (sau đây gọi là Quyết định số 894) về việc bồi thường thiệt hại đối với ông trong dự án 38ha tại phường N, Quận A với diện tích giải tỏa tại thửa 4025, tờ 2 sau khi đo đạc thực tế là 1.838m2 và được áp giá đền bù bằng giá đất nông nghiệp là 180.000 đồng/m2. Không đồng ý với Quyết định số 894 vì cho rằng mức giá đền bù về đất không phù hợp vì ông cho rằng phải đền bù theo giá đất nông nghiệp xen cài khu dân cư với mức giá đền bù năm 2011, không phải mức giá từ thời điểm năm 1993 nên ông tiếp tục khiếu nại. Tuy nhiên, Ủy ban nhân dân Quận A không ban hành quyết định giải quyết khiếu nại. Ông giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về hủy Quyết định số 894. Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2012/HCST ngày 05/3/2012 của Tòa án nhân dân Quận A, tuyên xử: 1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Thanh L (Phạm Văn G) về việc yêu cầu tuyên hủy Quyết định hành chính số 894/QĐ-UBND-BT ngày 24/6/2011 của Ủy ban nhân dân Quận A. 2. Án phí hành chính sơ thẩm: 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) ông Phạm Thanh L (Phạm Văn G) phải nộp, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm ông L (G) đã nộp là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) theo biên lai số 05384 ngày 27/10/2011 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận A. Ủy ban nhân dân Quận A không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm. Ngoài ra án sơ thẩm còn giải quyết về án phí và các vấn đề liên quan đến quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm,

Ngày 13/3/2012, ông Phạm Thanh L (Phạm Văn G) có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, do ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông.

Trong khi Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý giải quyết vụ án thì:

- Ngày 30/7/2012, Ủy ban nhân dân Quận A ban hành Quyết định số 1822/QĐ-UBND-BT (sau đây gọi là Quyết định số 1822) về việc điều chỉnh, bổ sung Quyết định số 894/QĐ-UBND-BT ngày 24/6/2011 của Ủy ban nhân dân Quận A.

- Ngày 14/12/2018, Ủy ban nhân dân Quận A ban hành Quyết định số 2928/QĐ-UBND-BT (sau đây gọi là Quyết định số 2928) về việc điều chỉnh, bổ sung Quyết định số 894/QĐ-UBND-BT ngày 24/6/2011 của Ủy ban nhân dân Quận A.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người khởi kiện và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện trình bày: Đến thời điểm hiện nay, Ủy ban nhân dân Quận A chưa thi hành Quyết định số 1822 và Quyết định số 2928, làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của gia đình ông. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện, hủy bản án sơ thẩm.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện Ủy ban nhân dân Quận A trình bày:

Ngày 30/7/2012, Ủy ban nhân dân Quận A ban hành Quyết định số 1822/QĐ-UBND-BT về việc điều chỉnh, bổ sung Quyết định số 894/QĐ-UBND-BT ngày 24/6/2011 của Ủy ban nhân dân Quận A.

Ngày 14/12/2018, Ủy ban nhân dân Quận A ban hành Quyết định số 2928/QĐ-UBND-BT về việc điều chỉnh, bổ sung Quyết định số 894/QĐ-UBND-BT ngày 24/6/2011 của Ủy ban nhân dân Quận A.

Quyết định số 1822 và Quyết định số 2928 được ban hành bồi thường bổ sung đối với ông L là đã đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của ông L. Ông L cũng đồng ý với hai quyết định này. Hiện nay còn vướng một số vấn đề trong công tác bồi thường nên Ủy ban nhân dân Quận A chưa thể thi hành Quyết định số 1822 và Quyết định số 2928.

Đề nghị Tòa án không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Thanh L (Phạm Văn G), giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về hình thức: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định pháp luật tố tụng hành chính từ khi thụ lý đến khi xét xử. Tại phiên tòa phúc thẩm cho đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tiến hành phiên tòa đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Tố tụng hành chính; các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mình. Về nội dung: Sau khi xét xử sơ thẩm, Ủy ban nhân dân Quận A ban hành Quyết định số 1822 và Quyết định số 2928 có nội dung sửa đổi, bổ sung Quyết định số 894. Việc Ủy ban nhân dân Quận A ban hành các quyết định hành chính mới là tình tiết mới của vụ án, các quyết định hành chính mới này chưa được xem xét tính hợp pháp để đảm bảo hai cấp xét xử nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phạm Thanh L (Phạm Văn G), hủy bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định: [1]. Về hình thức: Đơn kháng cáo của ông Phạm Thanh L (Phạm Văn G) làm trong thời hạn luật định nên chấp nhận. [2]. Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của ông Phạm Thanh L (Phạm Văn G): Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Phạm Thanh L (Phạm Văn G) vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu hủy Quyết định số 894. Đối với Quyết định số 1822, Quyết định số 2928 về việc điều chỉnh, bổ sung Quyết định số 894, người khởi kiện yêu cầu tiếp tục xem xét và đề nghị Ủy ban nhân dân Quận A thi hành. Xét, sau khi xét xử sơ thẩm, Ủy ban nhân dân Quận A ban hành Quyết định số 1822 và Quyết định số 2928 có nội dung sửa đổi, bổ sung Quyết định số 894 về việc bồi thường, hỗ trợ thiệt hại và bàn giao mặt bằng đối với ông Phạm Thanh L (Phạm Văn G) có đất bị ảnh hưởng dự án Khu tái định cư 36,2ha. Việc Ủy ban nhân dân Quận A ban hành các quyết định hành chính số 1822, Quyết định số 2928 là tình tiết mới phát sinh của vụ án. Quyết định số 1822, Quyết định số 2928 có nội dung bồi thường, hỗ trợ thiệt hại bổ sung và bàn giao mặt bằng đối với ông Phạm Thanh L (Phạm Văn G), là bộ phận không tách rời của Quyết định số 894. Quyết định số 1822 và Quyết định số 2928 chưa được xem xét tính hợp pháp để đảm bảo hai cấp xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phạm Thanh L (Phạm Văn G), hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm. Căn cứ khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 104/2015/QH13 của Quốc hội, thẩm quyền giải quyết vụ án hiện nay thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nên hồ sơ vụ án sẽ được giữ lại tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh để thụ lý và giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về nội dung vụ kiện là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Thanh L (Phạm Văn G), hủy Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2012/HCST ngày 05/3/2012 của Tòa án nhân dân Quận A.

. Về án phí hành chính phúc thẩm: Do Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm nên người kháng cáo là Phạm Thanh L (Phạm Văn G) không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định tại khoản 3 Điều 34 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 220, Điều 225, khoản 3 Điều 241, Điều 242 Luật Tố tụng hành chính năm 2015;

Căn cứ khoản 3 Điều 34 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Thanh L (Phạm Văn G).

Tuyên xử:

1/ Hủy Bản án hành chính sơ thẩm số 02/2012/HCST ngày 05/3/2012 của Tòa án nhân dân Quận A xét xử vụ án khiếu kiện quyết định hành chính về bồi thường giải phóng mặt bằng giữa người khởi kiện ông Phạm Thanh L (Phạm Văn G) và người bị kiện Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;

Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

2/ Về án phí hành chính phúc thẩm: Ông Phạm Thanh L (Phạm Văn G) không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.

Hoàn trả lại cho ông Phạm Thanh L (Phạm Văn G) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 200.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AB/2011/05014 ngày 13/3/2012 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận A.

3/ Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

CÁC THẨM PHÁN

Cỡ chữ