- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? 39, khoản 4 Điều 147, Điều 186, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273, Điều 280, Điều
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 709/2019/HNGĐ-ST Ngày: 28/6/2019 V/v Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Thiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Lượng;
2. Bà Nguyễn Thị Quý.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Giang – Thư ký Tòa án nhân dân quận
Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị
Lê – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ
Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 170/2019/TLST- HNGĐ ngày
01/3/2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 200/2019/QĐXXST-
HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 119/2019/QĐST-
HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Đặng Ngọc Q, sinh năm: 1993 – có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Địa chỉ thường trú: 17 Đường T, khu phố N, phường Y, quận T, Thành phố Hồ Chí
Minh.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Duy H, sinh năm: 1993 – (vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: 17 Đường T, khu phố N, phường Y, quận T, Thành phố Hồ Chí
Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
(1) Nguyên đơn bà Đặng Ngọc Q trình bày: Bà Q và ông Nguyễn Duy H quen biết
nhau từ lúc còn học trung học phổ thông, sau 05 năm yêu nhau hai bên tự nguyện tiến tới
hôn nhân và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Tam Bình, quận Thủ Đức,
Thành phố Hồ Chí Minh. Hai bên chưa tổ chức đám cưới và dự định sau khi đăng ký kết hôn ông H sẽ đi du học tại Australia (nước Úc), bà Q sẽ cùng nhau sang Úc để làm việc. Thế nhưng sau đó bà Q phát hiện ông H chung sống với người phụ nữ khác như vợ chồng. Vì ông H có tính trăng hoa, không chung thủy, ngoại tình với người phụ nữ khác nên bà Quynh đã bỏ về nhà cha mẹ ruột ở cho đến nay. Từ lúc bà Q bỏ về nhà mẹ ruột ở ông H vẫn sống chung với người phụ nữ khác bên ngoài, không gặp bà Q để xin lỗi hoặc bày tỏ thái độ ăn năn, mà bỏ mặt bà Q không quan tâm. Hai bên có nói chuyện và đi đến thống nhất chấm dứt quan hệ hôn nhân để mỗi bên ổn định cuộc sống, thế nhưng ông H không hợp tác với Tòa án, cố tình không đến Tòa làm việc khi nhận được thông báo, giấy triệu tập. Nhận thấy tình cảm không còn, mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Q khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Duy H để ổn định cuộc sống về sau. Giữa bà Q và ông Nguyễn Duy H chưa có con chung, không có tài sản chung, nghĩa vụ chung.
(2) Đối với bị đơn ông Nguyễn Duy H vắng mặt không có lý do khi được Tòa án
triệu tập lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và vắng mặt phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất.
(3) Tại phiên tòa hôm nay: Ông Nguyễn Duy H tiếp tục vắng mà không có lý do.
Nguyên đơn bà Đặng Ngọc Q có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
(4) Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát
biểu ý kiến: Tòa án đã tiến hành tố tụng từ khi thụ lý cho đến mở phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn ông Nguyễn Duy H đã vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai mà không có lý do chính đáng hoặc sự kiện bất khả kháng nên đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên chấp nhận. Về nội dung, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại
phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Bà Đặng Ngọc Q khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn
Duy H là tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn ông Nguyễn Duy H có đăng ký cư trú trên địa bàn quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nguyên đơn bà Đặng Ngọc Q có đơn đề nghị được xét xử vắng mặt. Bị đơn ông
Nguyễn Duy H vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, Hội đồng xét xử áp dụng điểm
a và điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án tiến
hành xét xử vắng nguyên đơn và bị đơn.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 70 do Ủy
ban nhân dân phường Tam Bình, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đăng ký ngày
25/7/2016 có cơ sở xác định giữa bà Đặng Ngọc Q và ông Nguyễn Duy H có quan hệ hôn
nhân hợp pháp. Căn cứ vào sự thừa nhận cũng như không phản đối giữa các bên đương
sự. Có cơ sở xác định nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn chính giữa hai bên là do ông
Nguyễn Duy H ngoại tình, không chung thủy. Toàn bộ lời khai của bà Q cũng như tài liệu
chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được công khai trong phiên họp kiểm tra việc giao nộp,
tiếp cận và công khai chứng cư, đã được thông báo cho ông Nguyễn Duy H, thế nhưng
ông H không có ý kiến phản hồi cũng không phản đối. Xét thấy, đây là trường hợp vi
phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho đời sống hôn nhân lâm vào tình trạng
trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên bà Q đã bỏ về nhà cha mẹ ruột sống
cho đến nay, chủ động sống ly thân, mục đích hôn nhân giữa hai bên không đạt được.
Tình trạng hôn nhân giữa bà Đặng Ngọc Q và ông Nguyễn Duy H thuộc trường hợp Tòa
án giải quyết cho ly hôn theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về con chung: Bà Đặng Ngọc Q tự xác định không có con chung, nên Hội
đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Bà Đặng Ngọc Q xác định tự không có,
không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm nguyên đơn bà Đặng Ngọc Q phải nộp theo
quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 5, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, khoản 4 Điều 147, Điều 186, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273, Điều 280, Điều
482 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 51, Điều 54 và Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Ngọc Q được ly hôn với ông Nguyễn Duy H.
- Về con chung: Bà Đặng Ngọc Q tự xác định không có con chung.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Bà Đặng Ngọc Q xác định không có, không
yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng buộc bà Đặng Ngọc Q
phải nộp theo quy định, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Q đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0023698 ngày 01/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Đặng Ngọc Q đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Bà Đặng Ngọc Q và ông Nguyễn Duy H được quyền kháng
cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP.HCM; - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM; - Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức; - Thi hành án dân sự quận Thủ Đức; - Các đương sự; - Cơ quan đăng ký kết hôn; - Lưu HS,VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký và đóng dấu Cao Văn Thiên |