vanban.org

Bản án 706/2023/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 18/08/2023 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/08/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bác yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Hoàng L. Giữ nguyên Bản án hành ch nh sơ thẩm số 01/2023/HC-ST ngày 27 tháng 4 năm 2023 của Toà án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

Bác yêu cầu khởi ki n của ông Nguyễn Hoàng L về yêu cầu hủy Công văn số 1610/UBND-NC ngày 27/6/2022 của UBND huy n C; Hủy Quy t đ nh số 2928/QĐ-UBND ngày 15/9/2022 của Chủ t ch UBND huy n C, tỉnh Trà Vinh về vi c giải quy t khi u nại. Án ph hành ch nh sơ thẩm và phúc thẩm: Ông Nguyễn Hoàng L được mi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "NGUYỄN HOÀNG L"
  • Tòa quyết gì? Bác yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Hoàng L. Giữ nguyên Bản án hành ch nh sơ thẩm số 01/2023/HC-ST ngày 27 tháng 4 năm 2023 của Toà án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
  • Căn cứ chính? Điều 100 Luật Đất đai; Điều 101 Luật Đất đai; Điều 241 Luật Tố tụng hành ch nh
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 706/2023/HC-PT
Ngày 18 tháng 8 năm 2023.
V/v hi u ki n quy t đ nh hành
ch nh.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Ông Vũ Ngọc Huynh

Các Thẩm phán:

Ông Hoàng Thanh Dũng

Ông Phan Nhựt Bình

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Phú Cường - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Ch Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tr Dũng - iểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Ch Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành ch nh thụ lý số 365/2023/TLPT-HC ngày 06 tháng 6 năm 2023 về vi c “ hi u ki n quy t đ nh hành ch nh”.

Do Bản án hành ch nh sơ thẩm số 01/2023/HC-ST ngày 27 tháng 4 năm 2023 của Toà án nhân dân tỉnh Trà Vinh b kháng cáo.

Theo Quy t đ nh đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1988/2023/QĐ-PT ngày 26 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

Người khởi kiện: Ông Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1958; đ a chỉ: Ấp D, xã N, huy n C, tỉnh Trà Vinh (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Hoàng L: Luật sư Nguyễn Tấn L1, Văn phòng luật sư Hai Ngoan thuộc Đoàn luật sư tỉnh Trà Vinh (có mặt)

- Người bị kiện:

1. Chủ t ch Ủy ban nhân dân huy n C, tỉnh Trà Vinh

2. Ủy ban nhân dân huy n C, tỉnh Trà Vinh

Cùng đ a chỉ: Số 274, khóm 3, th trấn C, huy n C, tỉnh Trà Vinh.

Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: Ông Nguyễn Văn T – Chức vụ Phó Chủ t ch Ủy ban nhân dân dân huy n C (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện:

Ông Nguyễn Văn Đ – Chánh Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huy n C (có mặt)

Ông Đinh Thành N – Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huy n C (có mặt).

- Người kháng cáo: Người khởi ki n là ông Nguyễn Hoàng L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Người khởi kiện trình bày:

Từ năm 1972 ông Nguyễn Hoàng L có tham gia cách mạng kháng chi n chống Mỹ. Đ n năm 1983 ông L được phân công cùng Đoàn chuyên gia Vi t Nam sang giúp nước bạn Campuchia. Từ tháng 10/1990 ông L được phân công giữ chức vụ Trưởng phòng khám đa khoa khu vực xã Nh Long nên được ông Lê Minh K là nguyên Chủ t ch Ủy ban nhân dân xã Nh Long và Phạm Văn T1 là nguyên B thư Đảng ủy xã Nh Long giao một nền nhà di n t ch 79,2m2, thuộc một phần thửa đất số 1973 và thửa số 1974 di n t ch 73,2m2, tọa lạc tại ấp D, xã L, huy n C, tỉnh Trà Vinh. Đồng thời, ông L còn được giao căn nhà để ở trước đây là phòng giao d ch của Ngân hàng Nông nghi p và phát triển nông thôn huy n C để làm phòng khám. Căn cứ khoản 7 Điều 18 Ngh đ nh số 43/2014/NĐ-CP ông cho rằng đủ điều ki n được giao di n t ch đất 79,2m2 theo quy đ nh.

Từ năm 2014 UBND xã Nh Long và UBND huy n C đã thực hi n cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 62 hộ gia đình, cá nhân. Riêng ông L không được giao đất, ông đã làm đơn yêu cầu giao đất, công nhận quyền sử dụng đất có thu tiền.

Ngày 05/7/2022 UBND huy n C ra Công văn số 1610/UBND-NC trả lời với nội dung không chấp nhận đơn yêu cầu của ông L. hông đồng ý, ông L khi u nại Công văn trên. Ngày 15/9/2022 Chủ t ch UBND huy n C ra Quy t đ nh số 2928/QĐ-UBND giải quy t khi u nại của ông L quy t đ nh điều chỉnh Công văn số 1610/UBND-NC về vi c ghi ngày nhận đơn đồng thời giữ nguyên nội dung của Công văn số 1610/UBND-NC, ngày 27/6/2022 của Chủ t ch UBND huy n C và không chấp nhận nội dung khi u nại của ông. Nay ông Nguyễn Hoàng L khởi ki n yêu cầu Tòa án: Hủy Công văn số 1610/UBND-NC ngày 27/6/2022 của UBND huy n C; Hủy Quy t đ nh số 2928/QĐ-UBND của Chủ t ch UBND huy n C về vi c giải quy t khi u nại của ông Nguyễn Hoàng L.

Đại diện người bị kiện Chủ tịch UBND huyện C và UBND huyện C là ông Nguyễn Văn T trình bày:

Nguồn gốc thửa đất số 1973 và một phần của thửa số 1974 tờ bản đồ số 5, di n t ch 79,2m2 (theo tư li u 2015), nằm một phần thửa 332, tờ bản đồ số 6, trong tổng di n t ch 6.000m2 (theo tư li u 1996), tọa lạc ấp D, xã L do Ủy ban nhân dân xã Nh Long kê khai đăng ký qua các thời kỳ, trên đất có trụ sở Phòng giao d ch của Ngân hàng nông nghi p và phát triển nông thôn chi nhánh huy n C. Do ông L là người có công với cách mạng nên vào khoảng năm 1990 ông Phạm Văn T1 là B thư Đảng ủy và ông Lê Minh K là Chủ t ch UBND xã xét đồng ý cho ông Nguyễn Hoàng L ở tạm khi nào Nhà nước cần thì ông L phải trả lại nhà và đất cho Nhà nước, chỉ thỏa thuận mi ng không có lập thành văn bản.

Tại Công văn số 23/2017/NHNoCL ngày 20/9/2017 của Ngân hàng Nông nghi p và phát triển nông thôn Vi t Nam chi nhánh huy n C xác đ nh: Thời điểm phòng giao d ch ngưng hoạt động, bác sĩ Nguyễn Hoàng L có hỏi lãnh đạo Ngân hàng xin ở tạm khi nào Ngân hàng có sử dụng lại trụ sở để làm vi c thì bác sĩ L sẽ di dời đi và được lãnh đạo ngân hàng đồng ý cho ở tạm. Phòng giao d ch tại xã Nh Long ngân hàng xây dựng trên đất của UBND xã quản lý, nay đã ngưng hoạt động, Ngân hàng giao lại cho UBND xã thanh lý. Riêng ông Nguyễn Hoàng L, ngày 06/5/2005 được UBND huy n C giao đất có thu tiền sử dụng đất không qua đấu giá tại thửa số 230, tờ bản đồ số 23, di n t ch 472,1m2, loại đất thổ, đất tọa lạc tại ấp Đon, xã Nh Long, huy n C, tỉnh Trà Vinh.

Tại t luận số 05/ L-TTr ngày 17/6/2020 của Chánh Thanh tra tỉnh Trà Vinh giao Ủy ban nhân dân huy n C yêu cầu ông Nguyễn Hoàng L trả lại phần đất đang sử dụng (phần đất phòng Giao d ch Ngân hàng Nông nghi p và Phát triển nông thôn xã Nh Long) cho Nhà nước quản lý.

Vì điều ki n giao đất tại điểm g khoản 2 Điều 118 Luật Đất đai năm 2013 quy đ nh “Giao đất ở cho hộ gia đình, cá nhân có hộ khẩu thường trú tại xã mà không có đất ở và chưa được nhà nước giao đất ở”, nên ông Nguyễn Hoàng L không đủ điều ki n để được giao đất có thu tiền không thông qua đấu giá theo quy đ nh của Luật Đất đai.

Ông Nguyễn Hoàng L không có một trong các loại giấy tờ được quy đ nh tại Điều 100, không đủ điều ki n được xem xét công nhận quyền sử dụng đất theo quy đ nh tại Điều 101 của Luật Đất đai năm 2013. Nên UBND huy n C giữ nguyên Công văn số 1610/UBND-NC ngày 27/6/2022 của Chủ t ch UBND huy n C và Quy t đ nh giải quy t khi u nại số 2928/QĐ-UBND ngày 15/9/2022 của Chủ t ch UBND huy n C. Yêu cầu Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi ki n của ông Nguyễn Hoàng L.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm 01/2023/HC-ST ngày 27 tháng 4 năm 2023, Toà án nhân dân tỉnh Trà Vinh quyết định:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 193, khoản 1 Điều 206 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Điều 12, khoản 1 Điều 32 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hoàng L về yêu cầu hủy Công văn số 1610/UBND-NC ngày 27/6/2022 của UBND huyện C; Hủy Quyết định số 2928/QĐ-UBND ngày 15/9/2022 của Chủ tịch UBND huyện C, tỉnh Trà Vinh về việc giải quyết khiếu nại.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quy t đ nh về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy đ nh của pháp luật.

Ngày 10/5/2023, ông Nguyễn Hoàng L có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ông Nguyễn Hoàng L trình bày: Từ tháng 10/1990, ông L được phân công về xã Nh Long công tác nên được Chủ t ch Ủy ban nhân dân xã Nh Long và B thư Đảng ủy xã Nh Long giao một nền nhà di n t ch 79,2m2, thuộc một phần thửa đất số 1973 và thửa số 1974 di n t ch 73,2m2, tọa lạc tại ấp D, xã L, huy n C, tỉnh Trà Vinh và căn nhà trước đây là phòng giao d ch của Ngân hàng Nông nghi p và phát triển nông thôn huy n C để ở. Căn cứ khoản 7 Điều 18 Ngh đ nh số 43/2014/NĐ-CP ông L đủ điều ki n được giao di n t ch đất 79,2m2. Do đó, đề ngh Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi ki n của ông L.

Luật sư Nguyễn Tấn L1 trình bày: UBND huy n C vi phạm về thời gian giải quy t, từ ngày 09/9/2020 ông L có đơn khi u nại yêu cầu giải quy t giao đất đ n ngày 29/4/2021 ông L ti p tục khi u nại thì Ủy ban nhân dân huy n C mới có công văn giải quy t yêu cầu của ông L. Về nội dung: Ông L tham gia cách mạng làm nhi m vụ giúp nước bạn Campuchia theo quy t đ nh 142 ông L được điều động về công tác tại xã Nh Long với nhi m vụ Trưởng trạm y t . Năm 1990 ông L được lãnh đạo xã cho nhà, đất ở và kinh doanh khám chữa b nh, bán thuốc. Nhà này của phòng giao d ch của Ngân hàng nông nghi p và phát triển nông thôn Vi t Nam chi nhánh huy n C không sử dụng trả lại cho UBND xã Nh Long quản lý từ năm 1990. Ông L sử dụng nhà, đất liên tục từ đó đ n nay trên 30 năm nên ông L đủ điều ki n được giao đất theo quy đ nh tại điểm e, khoản 1 Điều 118 Luật Đất đai 2013 và khoản 7 Điều 18 Ngh đ nh số 43/2014/NĐ-CP. Do đó, đề ngh Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông L.

Ông Nguyễn Văn T trình bày: Nguồn gốc đất thửa số 1973 và 1974 do UBND xã Nh Long cấp Ngân hàng Nông nghi p và phát triển nông thôn Vi t Nam chi nhánh huy n C. Trên đất có 01 căn nhà do Ngân hàng Nông nghi p và phát triển nông thôn xây dựng. Sau đó, ngân hàng không sử dụng nữa thì Chủ t ch UBND xã Nh Long khi đó có nói mi ng cho ông L vào ở. Khi ông L về công tác tại xã Nh Long, lãnh đạo xã và ngân hàng Nông nghi p và Phát triển nông thôn chi nhánh huy n C tạo điều ki n cho ông L và gia đình ở tạm trên đất, khi nào Nhà nước cần thì ông L phải trả lại nhà và đất cho Nhà nước. Vi c giao nhà, đất cho ông L ở tạm không có văn bản mà chỉ nói mi ng nhưng thực t đất vẫn do UBND xã Nh Long kê khai đăng ký qua các thời kỳ. Năm 2005, ông L đã được UBND huy n giao đất có thu tiền nhưng không thông qua đấu giá tại thửa số 230, tờ bản đồ số 23, di n t ch 472,1m2, loại đất thổ, đất tọa lạc tại ấp Đon, xã Nh Long, huy n C, tỉnh Trà Vinh. Trước đây, UBND huy n C có lập đoàn kiểm tra và yêu cầu ông L trả lại nhà, đất, khi đó ông L có nói là không cấp cho ông L thì cấp cho con ông L nhưng Ủy ban không đồng ý và Chánh Thanh tra tỉnh Trà Vinh đã có t luận số 05/KL-TTr ngày 17/6/2020 giao Ủy ban nhân dân huy n C yêu cầu ông Nguyễn Hoàng L trả lại phần đất đang sử dụng (phần đất phòng Giao d ch Ngân hàng Nông nghi p và Phát triển nông thôn xã Nh Long) cho Nhà nước quản lý. Do đó, ông L không đủ điều ki n được giao đất theo điểm g khoản 1 Điều 118 Luật Đất đai 2013. Đề nghi Hội đồng xét xử bác kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Ông Nguyễn Văn Đ và ông Đinh Thành N thống nhất trình bày: Ông L không có một trong các loại giấy tờ được quy đ nh tại Điều 100, không đủ điều ki n được xem xét công nhận quyền sử dụng đất theo quy đ nh tại Điều 101 của Luật Đất đai năm 2013 nên không đủ điều ki n được giao đất theo điểm g khoản 1 Điều 118 Luật Đất đai 2013. Đề nghi Hội đồng xét xử bác kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh:

- Vi c chấp hành pháp luật: Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng tuân thủ đúng quy đ nh của Luật Tố tụng hành ch nh.

- Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xử bác yêu cầu khởi ki n của ông Nguyễn Hoàng L là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông L kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ nào mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo nên đề ngh Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông L và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài li u, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa, k t quả tranh tụng tại phiên tòa, ý ki n của iểm sát viên. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

Về tố tụng:

Đơn kháng cáo, nghĩa vụ đóng tạm ứng án ph , đương sự đã thực hi n đúng theo quy đ nh của pháp luật.

Về thời hi u khởi ki n: Tòa án cấp sơ thẩm xác đ nh đơn khởi ki n của người khởi ki n còn trong thời hi u khởi ki n là đúng quy đ nh của pháp luật.

Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi ki n của ông Nguyễn Hoàng L đối với Công văn số 1610/UBND-NC ngày 27/6/2022 của UBND huy n C:

[2.1.1] Về thẩm quyền ban hành: Nội dung Công văn số 1610/UBND-NC ngày 27/6/2022 của UBND huy n C có t nh chất giải quy t yêu cầu xin được cấp quyền sử dụng đất của ông L nên là quy t đ nh hành ch nh theo quy đ nh tại khoản 1 Điều 3 Luật tố tụng hành ch nh năm 2015 và vi c UBND huy n C ban hành Công văn số 1610/UBND-NC ngày 27/6/2022 là đúng quy đ nh của pháp luật tại điểm a khoản 2 Điều 59 Luật Đất đai năm 2013.

Về nội dung văn bản: Ông Nguyễn Hoàng L yêu cầu được giao đất có thu tiền sử dụng đất thửa số 1973, một phần thửa 1974 di n t ch 79,2m2, tờ bản đồ số 5, loại đất ONT, đất tọa lạc tại ấp D, xã L, huy n C, tỉnh Trà Vinh và yêu cầu được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với lý do ông đã được ch nh quyền đ a phương giao cho ông sử dụng ổn đ nh trên di n t ch đất trên từ năm 1990, ông đã sử dụng ổn đ nh từ đó đ n nay, theo quy đ nh của pháp luật thì ông đã đủ điều ki n được giao đất có thu tiền sử dụng đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Xét thấy, các tài li u có trong hồ sơ vụ án thể hi n, thửa đất số 1973 và một phần của thửa số 1974 tờ bản đồ số 5, di n t ch 79,2m2 (theo tài li u 2015), thuộc một phần thửa 332, tờ bản đồ số 6, trong tổng di n t ch 6.000m2 (theo tài li u 1996), tọa lạc ấp D, xã L có nguồn gốc do Ủy ban nhân dân xã Nh Long kê khai đăng ký qua các thời kỳ, trên đất có trụ sở Phòng giao d ch của Ngân hàng Nông nghi p và Phát triển nông thôn chi nhánh huy n C. Do ông L là bác sĩ được điều động về đ a phương công tác khi đó chưa có nhà ở nên vào khoảng năm 1990 ông Phạm Văn T1 là B thư Đảng ủy và ông Lê Minh K là Chủ t ch UBND xã xét đồng ý cho ông Nguyễn Hoàng L ở tạm, khi nào Nhà nước cần thì ông L phải trả lại nhà và đất cho Nhà nước (BL93, 94, 112, 113). Tại Công văn số 23/2017/NHNoCL ngày 20/9/2017 của Ngân hàng Nông nghi p và phát triển nông thôn xác đ nh: “Thời điểm phòng giao dịch ngưng hoạt động, bác sĩ Nguyễn Hoàng L có hỏi lãnh đạo Ngân hàng xin ở tạm khi nào Ngân hàng có sử dụng lại trụ sở để làm việc thì bác sĩ L sẽ di dời đi và được lãnh đạo ngân hàng đồng ý cho ở tạm. Phòng giao dịch tại xã Nhị Long ngân hàng xây dựng trên đất của UBND xã quản lý, nay đã ngưng hoạt động, Ngân hàng giao lại cho UBND xã thanh lý” (BL65-66).

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông L thừa nhận nhà, đất thửa số 1973 và 1974 là của Ngân hàng Nông nghi p và phát triển nông thôn Vi t Nam chi nhánh huy n C. Sau đó, ngân hàng không sử dụng nữa thì Chủ t ch UBND xã Nh Long khi đó có nói mi ng cho ông L vào ở. Trong quá trình sử dụng, do nhà dột, xuống cấp nên ông L có lợp và tôn tại lại, nhưng vẫn giữ nguyên trạng căn nhà trước đây. Ông L thừa nhận do không hiểu bi t pháp luật nên đ n nay vẫn chưa đăng ký kê khai nhà, đất. Trước đây, UBND huy n C có lập đoàn kiểm tra và yêu cầu ông L trả lại nhà, đất, khi đó ông L có nói là không cấp cho ông L thì cấp cho con ông L nhưng Ủy ban không đồng ý. Ông L thừa nhận trước đây UBND huy n C đã giao cho gia đình ông L 472,1m2 đất để ở nhưng do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên ông L đã chuyển nhượng cho người khác.

Như vậy, nguồn gốc đất là đất công do UBND xã Nh Long quản lý, trên đất có 01 căn nhà của Ngân hàng Nông nghi p và phát triển nông thôn, đã có văn bản giao lại cho UBND xã Nh Long quản lý. Ông L không cung cấp được tài li u, chứng cứ nào để chứng minh ông L có quyền sử dụng hợp pháp khu nhà, đất này. Căn cứ theo quy đ nh tại Điều 100, 101 của Luật Đất đai 2013 thì ông L không đủ điều ki n được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Mặt khác, tại điểm g khoản 2 Điều 118 Luật Đất đai năm 2013 quy đ nh về điều ki n giao đất: “Giao đất ở cho hộ gia đình, cá nhân có hộ khẩu thường trú tại xã mà không có đất ở và chưa được nhà nước giao đất ở”. Tuy nhiên, năm 2005, ông L đã được UBND huy n C giao đất tại thửa đất số 230, di n t ch 472,1m2, tọa lạc tại ấp Đon, xã Nh Long để làm nơi ở, nên ông L không đủ điều ki n để được ti p tục giao đất lần 2. Do đó, Công văn số 1610/UBND-NC ngày 27/6/2022 của UBND huy n C không chấp nhận yêu cầu của ông L là có cơ sở, đúng quy đ nh pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bác yêu cầu khởi ki n của ông L là đúng quy đ nh của pháp luật.

Đối với yêu cầu của ông L về vi c hủy Quy t đ nh số 2928/QĐ-UBND ngày 15/9/2022 của Chủ t ch UBND huy n C, tỉnh Trà Vinh về vi c giải quy t khi u nại của ông L.

Về thẩm quyền, trình tự ban hành Quy t đ nh: Chủ t ch UBND huy n C ban hành Quy t đ nh giải quy t khi u nại số 2928/QĐ-UBND ngày 15/9/2022 là đúng thẩm quyền, đúng trình tự giải quy t khi u nại quy đ nh tại khoản 1 Điều 18, Điều 29, 30, 31 của Luật hi u nại năm 2011.

Về nội dung giải quy t: Như phân t ch tại mục [2.1], vi c UBND huy n C ban hành Công văn số 1610/UBND-NC ngày 27/6/2022 không chấp nhận yêu cầu của ông L được giao đất có thu tiền sử dụng đất thửa số 1973, một phần thửa 1974, di n t ch 79,2m2, tờ bản đồ số 5, loại đất ONT, đất tọa lạc tại ấp D, xã L, huy n C, tỉnh Trà Vinh và yêu cầu được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất này là đúng quy đ nh của pháp luật. Quy t đ nh giải quy t khi u nại số 2928/QĐ-UBND ngày 15/9/2022 của Chủ t ch Ủy ban nhân dân huy n C bác khi u nại của ông L là có căn cứ.

Từ những phân t ch trên, Hội đồng xét xử xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá toàn di n các chứng cứ và xét xử bác yêu cầu khởi ki n của ông L là đúng quy đ nh của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của đại di n Vi n kiểm sát tham gia phiên tòa, bác toàn bộ kháng cáo của ông Nguyễn Hoàng L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Án ph hành ch nh phúc thẩm: Ông Nguyễn Hoàng L sinh năm 1958 là người cao tuổi nên được miễn.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành ch nh năm 2015;

Căn cứ Luật đất đai 2013; Điều 12 Ngh quy t 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và l ph Tòa án.

1. Bác yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Hoàng L. Giữ nguyên Bản án hành ch nh sơ thẩm số 01/2023/HC-ST ngày 27 tháng 4 năm 2023 của Toà án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

2. Bác yêu cầu khởi ki n của ông Nguyễn Hoàng L về yêu cầu hủy Công văn số 1610/UBND-NC ngày 27/6/2022 của UBND huy n C; Hủy Quy t đ nh số 2928/QĐ-UBND ngày 15/9/2022 của Chủ t ch UBND huy n C, tỉnh Trà Vinh về vi c giải quy t khi u nại.

3. Án ph hành ch nh sơ thẩm và phúc thẩm: Ông Nguyễn Hoàng L được miễn.

4. Bản án phúc thẩm có hi u lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ