- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 706/2019/HNGĐ-ST Ngày: 12/11/2019. V/v: “ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Như Nhiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thu Cúc.
2. Ông Trần Phú Nhuận.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Quỳnh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10.
Ngày 12 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 535/2019/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2019, về “ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 187/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 9 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1991 (vắng mặt).
Địa chỉ: thôn 8, xã LN, huyện BL, tỉnh LĐ.
2. Bị đơn: Ông Lê Văn H, sinh năm 1986 (vắng mặt).
Địa chỉ: Hiện đang chấp hành án tại khu AB trại tạm giam CH, số 324 đường HH, Phường 13, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 05/8/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:
Năm 2014, bà Nguyễn Thị Thu H và ông Lê Văn H tự nguyện kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Xuân Sơn, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu. Ông, bà có một con chung là Lê Gia Hân, sinh ngày 29/12/2014.
Quá trình chung sống, do bất đồng trong quan điểm, lối sống, nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không giải quyết được. Ông H đã có hành vi vi phạm pháp luật và hiện đang chấp hành án tại Trại tạm giam Chí Hòa. Nhận thấy vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn. Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung. Vợ chồng không có nợ chung.
Quá trình giải quyết vụ án bà H có đơn xin được vắng mặt trong quá trình tòa xét xử vụ án và vẫn giữ nguyên yêu cầu trong đơn khởi kiện và các ý kiến đã trình bày trong bản tự khai
Tại bản tự khai và đơn đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt ngày 10/9/2019, bị đơn ông Lê Văn H trình bày :
Ông và bà H chung sống có đăng ký kết hôn và có 01 con chung như bà H trình bày. Ông đồng ý ly hôn và đồng ý giao con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung. Vợ chồng không có nợ chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về thủ tục tố tụng:
1.1. Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị Thu H và ông Lê Văn H là tranh chấp phát sinh trong quan hệ hôn nhân và gia đình. Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, có cơ sở xác định quan hệ tranh chấp giữa hai bên là “ly hôn”. Tại thời điểm Tòa thụ lý vụ án thì bị đơn ông H hiện đang chấp hành án Trại tạm giam Chí Hòa Công an Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.[1]
1.2. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:
Xét thấy nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H và bị đơn ông Lê Văn H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, nên căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà Nguyễn Thị Thu H và ông Lê Văn H. [2]
2. Về nội dung tranh chấp:
2.1. Về quan hệ hôn nhân:
Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 68/2014, quyển số 01/2014, ngày 28/11/2014 do Uỷ ban nhân dân xã Xuân Sơn, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu cấp cho bà Nguyễn Thị Thu H và ông Lê Văn H, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông H là hợp pháp. [3]
Xét yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ trình bày của nguyên đơn cho thấy từ năm 2015 đến nay, bà H và ông H không còn chung sống với nhau, không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Bản thân ông H cũng xác nhận vợ chồng không còn tình cảm và đồng ý ly hôn, nhưng do hiện đang chấp hành án nên đề nghị Tòa xét xử theo quy định pháp luật. Xét mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không có khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được; căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình về ly hôn theo yêu cầu của một bên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được ly hôn của nguyên đơn. [5]
2.2. Về con chung:
Căn cứ bản trích lục khai sinh số 24/2015/TLKS-BS ngày 17/02/2017 do Uỷ ban nhân dân Phường xã Lộc Nam, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng cấp, có cơ sở xác định Lê Gia Hân (nữ), sinh ngày 29/12/2014 là con chung của bà Nguyễn Thị Thu H và ông Lê Văn H. [6]
Xét thỏa thuận của bà H và ông H về việc giao con cho bà H trực tiếp nuôi là sự tự nguyện, không trái quy định của pháp luật, nên hội đồng xét xử ghi nhận. [7]
Hai bên không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Các bên có thể thỏa thuận về mức cấp dưỡng và phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. [8]
Căn cứ vào các Điều 81; 82; 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trờ. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. [9]
2.3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: “Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”, nên bà H phải chịu án phí là 300.000 đồng. [10]
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự,
- Áp dụng Điều 2; khoản 1 Điều 56; Điều 81; 82; 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Áp dụng khoản 1 Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu H được ly hôn ông Lê Văn H.
2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thu H trực tiếp nuôi con chưa thành niên là Lê Gia Hân, sinh ngày 29/12/2014. Hai bên tự thỏa thuận việc cấp dưỡng nuôi con.
Ông H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai có quyền cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người đang trực tiếp nuôi con.
Vì quyền lợi về mọi mặt của con, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
3. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về nợ chung: không có.
5. Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng: Bà Nguyễn Thị Thu H chịu, nhưng được trừ vào số tiền đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2018/0017692 ngày 20/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Thu H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
6. Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là mười lăm ngày, kể từ ngày đương sự nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Q.10; - Chi cục THADS Q.10; - Các đương sự; - Lưu VP, hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Như Nhiên |