vanban.org

Bản án 705/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 26/05/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Vũ Thị T .

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị T được ly hôn với ông Ho Chanh C. Giấy chứng nhận kết hôn số 20, ngày 28/02/2017 do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Vũ Thị T và ông Ho Chanh C không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Vũ Thị T .
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 121 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 705/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 26-5-2022
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Duyên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Thanh

2. Ông Trần Văn Triều

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Viết Nhiên – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thúy Hằng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 29/2021/TLST-HNGĐ ngày 20/01/2021 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1367/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2022, và Quyết định hoãn phiên tòa số 4817/2022/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự;

- Nguyên đơn: Bà Vũ Thị T, sinh năm 1984

Địa chỉ: 8 B, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Ho Chanh C, sinh năm 1966

Quốc tịch: Australia.

Địa chỉ: Australia.

(Bà Vũ Thị T có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, ông Ho Chanh C vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 04/01/2021 và các lời khai trong quá trình tố tụng:

*. Nguyên đơn bà Vũ Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Ho Chanh C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 20, ngày 28/02/2017. Trong quá trình chung sống, vợ chồng bất đồng về ngôn ngữ, và không hòa hợp về tích cách nên cả hai thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Vào tháng 11 năm 2018 bà trở về Việt Nam sinh sống và không còn liên lạc với ông Ho Chanh C từ đó cho đến nay. Bà xác nhận hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Ho Chanh C.

- Về con chung, tài sản chung, và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vì bận việc, bà yêu cầu được vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án.

*. Đối với bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo ngày giờ và địa điểm mở phiên họp hòa giải, phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án thông qua thủ tục ủy thác tư pháp đến Tòa án có thẩm quyền của Australia theo địa chỉ của bị đơn do nguyên đơn cung cấp. Đồng thời, yêu cầu ông Ho Chanh C có văn bản gửi Tòa án trình bày ý kiến về việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn (theo hồ sơ ủy thác tư pháp số 249/TTTPDS-TA30 ngày 05/4/2021). Bộ Tư pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã có văn bản số 1430/BTP-PLQT ngày 07/6/2021, về việc thực hiện ủy thác tư pháp, đề nghị Tòa án tối cao của bang N của Ô-xtơ-rây-li-a thực hiện các công việc cần thiết để thực hiện ủy thác tư pháp theo quy định. Đến ngày mở phiên tòa như đã định tại thông báo gửi đương sự, Tòa án không nhận được các văn bản: Như lời khai, tài liệu, chứng cứ của đương sự ở nước ngoài và bị đơn vắng mặt, không có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Ngày 30/8/2021, tòa án có văn bản đề nghị Bộ Tư pháp thông báo về kết quả thực hiện tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho ông Ho Chanh C (Công văn số 132/TATP-TGĐVNCTN), nhưng đến nay vẫn không nhận được kết quả. Ngày 28/02/2022, Tòa án có Công văn số 139/TA-TB đề nghị Đ tại Australia thực hiện thông báo đăng trên cổng thông tin điện tử của Đại sứ quán theo quy định để thông báo ngày, giờ, địa điểm mở phiên họp hòa giải, phiên tòa đối với ông Ho Chanh C; Hết thời hạn thông báo, ông Ho Chanh C vẫn không liên hệ với Tòa án để giải quyết vụ án ly hôn theo đơn khởi kiện của bà Vũ Thị Tuyết .

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về vụ án: Về tố tụng, trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo trình tự tố tụng của Bộ luật tố tụng dân sự quy định về địa vị tố tụng và đảm bảo quyền lợi cho các đương sự. Về nội dung, Kiểm sát viên phân tích yêu cầu của nguyên đơn xin ly hôn bị đơn là phù hợp và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Vũ Thị T, Hội đồng xét xử nhận thấy bà T và ông Ho Chanh C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 20, ngày 28/02/2017. Vì vậy căn cứ vào Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đây là hôn nhân hợp pháp, khi một trong các bên có yêu cầu ly hôn, Tòa án xem xét, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

Bị đơn hiện cư trú tại Australia nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc xét xử vắng mặt đương sự trong vụ án:

Nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, yêu cầu cung cấp bản khai, thông báo ngày, giờ, địa điểm xét xử nhưng đến thời điểm xét xử Tòa án vẫn không nhận được phản hồi của bị đơn. Vì vậy căn cứ quy định tại Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Xét yêu cầu của bà Vũ Thị T yêu cầu ly hôn ông Ho Chanh C, Hội đồng xét xử xét thấy: Qua lời trình bày của bà T thì bà và ông Ho Chanh C chung sống không hạnh phúc. Từ khi kết hôn cho đến nay, bà T và ông Ho Chanh C không có quá trình chung sống lâu dài, do xa cách địa lý nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, hai bên chưa có sự gắn kết sâu đậm về tình cảm vợ chồng. Hiện nay bà T và ông Ho Chanh C đang sinh sống ở hai nước khác nhau nên khả năng đoàn tụ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà Vũ Thị T yêu cầu ly hôn với ông Ho Chanh C là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung bà Vũ Thị T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; nên tòa án không xét.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho bà Vũ Thị Tuyết ly h với ông Ho Chanh C là phù hợp với thực tế nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, bà Vũ Thị T phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 5 Điều 477, khoản 3 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 121 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Vũ Thị T .

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Thị T được ly hôn với ông Ho Chanh C.

Giấy chứng nhận kết hôn số 20, ngày 28/02/2017 do Ủy ban nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Vũ Thị T và ông Ho Chanh C không còn giá trị pháp lý.

1.2. Về con chung, tài sản chung và nợ chung bà Vũ Thị T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; nên tòa án không xét.

2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, bà Vũ Thị T phải chịu và được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà bà T đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2019/0093583 ngày 14/01/2021 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Vũ Thị T đã nộp đủ tiền án phí.

3. Bà Vũ Thị T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án, ông Ho Chanh C được quyền kháng cáo trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Tòa án nhân dân tối cao;

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Tòa án nhân dân cấp cao tại TPHCM;

- VKSND cấp cao tại TPHCM;

- VKSND TPHCM;

- Cục Thi hành án dân sự TPHCM;

- UBND huyện H; TP. HCM;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Hoàng Thị Bích Duyên

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN

TÒA

Phạm Văn Thanh

Trần Văn

Triều

Hoàng Thị Bích Duyên

Cỡ chữ