vanban.org

Bản án 701/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ vợ chồng: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Mỹ D đối với ông Nguyễn Văn U.

Bà Nguyễn Mỹ D được ly hôn với ông Nguyễn Văn U. Giấy chứng nhận kết hôn số 111, quyển số 01/2014 đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, Thành phố H ngày 17/12/2014 không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ vợ chồng: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Mỹ D đối với ông Nguyễn Văn U.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 701/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 21/7/2022
V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Châu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Bà Lê Thị Hoàng Liễu.

2- Ông Phạm Văn Tuyền.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Ngân- Thư ký Tòa án nhân

dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hiền -Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 7 năm 2022, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 303/2022/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 195/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số: 165/2022/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Mỹ D, sinh năm: 1989;

Địa chỉ: C4/4 ấp 3 xã Tân Kiên, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh;

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn U, sinh năm: 1974;

Địa chỉ: C4/4 ấp 3 xã Tân Kiên, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Nguyễn Mỹ D trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn U chung sống với nhau vào năm 2012 do tự tìm hiểu, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, Thành phố H vào năm 2014. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông U có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác nên bà và ông U sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Nay bà yêu cầu Tòa án cho bà ly hôn với ông U.

Về con chung: Có một con chung tên Nguyễn Minh K (Giới tính: Nam, sinh ngày 16/3/2015). Hiện nay bà đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ K. Khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ K, không yêu cầu ông U cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà và ông U không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà và ông U không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Văn U đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt, không thể hiện có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Mỹ D.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên toà có ý kiến như sau: Trong quá trình điều tra, thu thập chứng cứ Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Mỹ D. Về con chung: Giao trẻ Nguyễn Minh K (Giới tính: Nam, sinh ngày 16/3/2015) cho bà D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông Nguyễn Văn U.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bà Nguyễn Mỹ D và ông Nguyễn Văn U chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, Thành phố H vào ngày 17/12/2014. Do cuộc sống chung không hạnh phúc nên bà Diên yêu cầu ly hôn với ông U. Đây là tranh chấp về ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; Bị đơn cư trú tại xã T, huyện B, Thành phố H nên căn cứ quy định khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh có thẩm quyền giải quyết.

Nguyên đơn bà Nguyễn Mỹ D có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, do đó Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bà D là phù hợp với khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đã thực hiện các thủ tục tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa cho ông Nguyễn Văn U. Tại phiên tòa hôm nay ông U vẫn vắng mặt. Do đó Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông U là phù hợp với điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Tại Công văn số 514/UBND ngày 17/6/2022 Ủy ban nhân dân xã Tân Kiên cho biết bà Nguyễn Mỹ D và ông Nguyễn Văn U không còn chung sống với nhau. Trẻ Nguyễn Minh K, sinh ngày 16/3/2015 đang được bà D nuôi dưỡng.

Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình tố tụng, bị đơn ông Nguyễn Văn U vắng mặt, không thể hiện có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn của bà D, không có bất kỳ động thái nào để níu kéo, cứu vãn cuộc hôn nhân này. Điều này thể hiện tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân, do đó yêu cầu ly hôn của bà D là có cơ sở nên chấp nhận.

[3] Về con chung: Bà D có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Nguyễn Minh K, trẻ K cũng có nguyện vọng được sống chung với bà D. Do đó giao trẻ Khoa cho bà Diên tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Phần cấp dưỡng nuôi con bà D không yêu cầu, khi nào có yêu cầu Tòa án sẽ giải quyết.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà D xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Tòa án không đặt ra để giải quyết.

[5] Xét, đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về án phí: Bà D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, khoản 1 và khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ vợ chồng: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Mỹ D đối với ông Nguyễn Văn U.

Bà Nguyễn Mỹ D được ly hôn với ông Nguyễn Văn U.

Giấy chứng nhận kết hôn số 111, quyển số 01/2014 đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, Thành phố H ngày 17/12/2014 không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Giao trẻ Nguyễn Minh K (Giới tính: Nam, sinh ngày 16/3/2015) cho bà Nguyễn Mỹ D chăm sóc, nuôi dưỡng. Phần cấp dưỡng nuôi con bà D không có yêu cầu, khi nào có yêu cầu Tòa án sẽ giải quyết.

Ông Nguyễn Văn U có quyền tới lui thăm nom chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích của trẻ khi cần thiết có thể xin thay đổi việc nuôi con hoặc góp phần phí tổn nuôi con sau này.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về tài sản chung: Bà D xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó Tòa án không đặt ra để giải quyết.

4. Về nợ chung: Bà D xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó Tòa án không đặt ra để giải quyết.

5. Về án phí: Bà D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2019/0040790 ngày 21 tháng 3 năm 2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà D đã nộp đủ án phí.

5. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ