vanban.org

Bản án 701/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 22/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Trả hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2018/TLST-HS ngày 08

tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo Trần Văn Phú (Tên gọi khác: Hiền); Sinh Bị truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Nguyễn Dức Ch phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Lu…"
  • Tòa quyết gì? Trả hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2018/TLST-HS ngày 08
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 701/2020/HS-ST

Ngày: 22/12/2020

NHÂN DAH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thaåm phaùn - Chuû toïa phieân toøa: Bà Đồng Thị Hồng Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh – CB hưu trí. Bà Trương Thị Thìn – CB hưu trí. - Thư ký phiên tòa: Bà Thành Thị Thu TrAg – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Đ tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Hoàng – Kiểm sát viên. Trong ngày 22 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đ, Tòa án nhân dân thành phố B đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 664/2020/HSST ngày 12/11/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 731/2020/QĐXXST-HS ngày 04/12/2020 đối với bị cáo: Họ và tên: Bùi Đức Ch. Sinh năm 1998 tại L. Nơi đăng ký HKTT: 130 thôn 4, xã Đinh TrAg Hòa, huyện Di Linh, tỉnh L. Nơi ở hiện nay: tổ 42, khu phố 4C, phường Tr, thành phố B, tỉnh Đ. Nghề nghiệp: Thợ hớt tóc. Trình độ học vấn: Lớp 11/12. Họ tên cha: Bùi Đức Ch, sinh năm 1970 (còn sống). Họ tên mẹ: Đặng Thị Ng T, sinh năm 1974 (còn sống). Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Chưa Bị cáo hiện đAg bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. - Bị hại: Ah Trần Minh B, sinh năm 1993 Địa chỉ: Tổ 42, Khu phố 4C, phường Tr, thành phố B, tỉnh Đ. - Người làm chứng: 1. Ah Trần Bình A, sinh năm 1998. Địa chỉ: Tổ 42, Khu phố 4C, phường Tr, thành phố B, tỉnh Đ. 2. Ông Trịnh Văn D, sinh năm 1969. Địa chỉ: Tổ 42, Khu phố 4C, phường Tr, thành phố B, tỉnh Đ. 3. Ông Bùi Đức Ch, sinh năm 1970. Địa chỉ: Tổ 42, Khu phố 4C, phường Tr, thành phố B, tỉnh Đ. 4. Ah Trịnh Minh L, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Tổ 42, Khu phố 4C, phường Tr, thành phố B, tỉnh Đ. 5. Ông Trần Văn N, sinh năm 1970. Địa chỉ: Tổ 42, Khu phố 4C, phường Tr, thành phố B, tỉnh Đ. 6. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1987. Địa chỉ: Tổ 42, Khu phố 4C, phường Tr, thành phố B, tỉnh Đ. 7. Chị Trịnh Thị X, sinh năm 1990. Địa chỉ: Tổ 42, Khu phố 4C, phường Tr, thành phố B, tỉnh Đ. Tại phiên toà, bị cáo Ch có mặt; Bị hại Trần Minh B và những người làm chứng vắng mặt không có lý do) NỘI DUNG VỤ ÁN Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 17 giờ ngày 31/01/2020, ông Trần Văn Ng điều khiển xe ô tô (chạy dịch vụ) đến nhà ông Bùi Đức Ch ở khu phố 4, phường Tr, thành phố B để chở gia đình ông Ch đi chúc tết. Khi gia đình ông Ch lên xe ngồi thì vợ ông Ch không muốn đi chúc tết nữa. Lúc này, Bùi Đức Ch (con riêng của ông Ch) có thái độ bực tức, xuống xe và đóng cửa mạnh tay thì giữa ông Ng và Ch cãi vã. Ch có lời nói xúc phạm ông Ng và nhặt thAh sắt lót bậc cửa (dùng để dắt xe vào nhà) đưa lên dọa đánh làm ông Ng không dám chạy xe ô tô mà để lại xe bỏ chạy. Ông Ng về nhà kể lại sự việc cho con trai là Trần Minh B (sinh năm: 1993, ngụ tại khu phố 4C, phường Tr, thành phố B, tỉnh Đ) và Trần Bình A nghe. Ông Ng cùng B và A (A cầm theo 01 cái xẻng dài khoảng 1,1m) quay lại nhà Chđể lấy xe về. Khi đến nhà Chông Ng và Chtiếp tục xảy ra cãi vã. Ch xông tới chỗ ông Ng thì bị Ah B dùng tay đấm 01 cái vào mặt và ôm Ch lại. Khi bị B đánh, Ch vùng ra lấy 01 con dao dài khoảng 34cm của gia đình Ch để ở hiên trước cửa nhà xông đến đâm liên tục nhiều nhát vào ngực, bụng, tay trái của Ah B, Ah B bỏ chạy ra ngoài đường. Thấy Ah B bị đâm chảy máu, A vứt cái xẻng đAg cầm trên tay chạy đến đỡ Ah B. Ông Ng nhặt cái xẻng A vừa ném xuống đất chạy đến đánh Ch thì Chbỏ chạy vào trong nhà, mọi người đưa B đi cấp cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy – thành phố H. Hậu quả: Ah Trần Minh B bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 28%. * Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 0162/TgT/2020, ngày 10/3/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận thương tích của Ah Trần Minh B như sau: - Dấu hiệu Ch qua giám định: + Tổn thương dây thần kinh giA cốt sau bên trái, thể sợi trục, mức độ nặng, ngAg qua vết thương cẳng tay trái (nhánh thần kinh quay). Tỷ lệ: 15%. + Mổ thăm dò ổ bụng bằng nội soi. Tỷ lệ: 10%. + Mẻ 1/3 trên xương quay trái. Tỷ lệ: 01%. + Sẹo mặt sau cẳng tay trái kích thước 10,5x0,3cm. Tỷ lệ: 02%.

+ Sẹo ngực trái kích thước 2,5x0,3cm. Tỷ lệ: 01%. + Sẹo hông lưng trái kích thước 8,2x0,4cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định áp dụng theo phương pháp cộng lùi là 28%. + Vật gây thương tích: Vật sắc nhọn. - Vật chứng: + 01 (Một) con dao (loại dao bầu) dài khoảng 34cm, cán bằng gỗ đầu mũi dao có dính máu là hung khí bị cA Bùi Đức Chsử dụng gây án. + 01 (Một) cái xẻng dài khoảng 1,1m cán bằng gỗ do ông Trần Văn Ng sử dụng đánh nhau với Bùi Đức Chiến. Về dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Bùi Đức Ch đã bồi thường chi phí điều trị thương tích cho Ah B với số tiền là 85.000.000đ, Ah B đã làm đơn bãi nại, không yêu cầu gì thêm. Tại bản cáo trạng số 669/CT/VKS-BH ngày 10/11/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố bị cáo Bùi Đức Ch về tội “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa ngày hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B giữ nguyên quA điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự; các điểm b, s khoản 1, Điều 51 và Điều 65 Bộ Luật hình sự đồng thời đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo Bùi Đức Ch từ: 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định một mức thời giA thử thách phù hợp theo quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Tòa án nhân dân thành phố B tuyên: + Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) con dao (loại dao bầu) dài khoảng 34cm, cán bằng gỗ và 01 (Một) cái xẻng dài khoảng 1,1m cán bằng gỗ do ông Trần Văn Ng sử dụng đánh nhau với Bùi Đức Ch. - Về trách nhiệm dân sự: Do hai bên đã giải quyết xong nên không đề cập tới để xem xét giải quyết. - Phần án phí: Buộc bị cáo chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật. Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả trAh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại; bị hại; người làm chứng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quA điều tra Công A Thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quA tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi,

quyết định tố tụng của Cơ quA tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2]. Tại phiên tòa sơ thẩm ngày hôm nay, bị cáo Bùi Đức Ch đã khai nhận: Vào khoảng 17 giờ ngày 31/01/2020, tại khu phố 4, phường Tr, thành phố B, ông Trần Văn Ng điều khiển xe ô tô đến chở gia đình Bùi Đức Ch đi chúc tết nhưng do mẹ kế của Chkhông muốn đi nên Chvùng vằng xuống xe đóng cửa mạnh dẫn đến Chvà ông Ng xảy ra mâu thuẫn cãi vã, Chdọa đánh ông Ng. Ông Ng về nhà kể lại sự việc và cùng với Ah Trần Minh B, Ah Trần Bình A (con ông Ng) đem theo 01 cái xẻng dài khoảng 1,1m quay lại nhà Chiến. Khi gặp Ch, ông Ng và Chtiếp tục xảy ra cãi vã. Ah Trần Minh B dùng tay đánh 01 cái vào mặt Chiến. Chcó hành vi dùng 01 con dao bầu dài khoảng 34cm đâm nhiều nhát vào ngực, bụng, tay trái của Ah Trần Minh B. Hậu quả: Ah Trần Minh B bị thương tích với tỉ lệ tổn thương cơ thể là 28%. Lời khai này phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, kết luận giám định thương tích; lời khai của bị cáo, bị hại cũng như lời khai của những người tham gia tố tụng khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự với tình tiết định khung là “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k là “Dùng hung khí nguy hiểm” tại khoản 1 Điều này với mức hình phạt của khung hình phạt là từ 2-6 năm tù như Bản cáo trạng số 669/CT/VKS-BH ngày 16/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố B đã truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. [3]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì một mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống, bị cáo đã dùng hung khí chém nhiều nhát lên cơ thể bị hại gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 28%, xâm phạm đến sức khoẻ của người khác là khách thể được pháp luật B vệ, gây mất A ninh trật tự trị A xã hội tại địa phương, gây hoAg mAg cho quần chúng nhân dân. Bị cáo là người đã trưởng thành, có học vấn nhất định, phía bị hại lại là hàng xóm của bị cáo, nhưng khi xảy ra mâu thuẫn bị cáo lại bồng bột, không tìm được hướng xử lý tình huống cho phù hợp khi phía nhà bị hại dẫn người qua nhà mình mà chọn cách gây thương tích cho người khác là hành vi bị pháp luật ngiêm cấm. Từ những phân tích trên, xét cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung. [4]. Tuy nhiên, khi lượng hình phạt đối với bị cáo, xét trong vụ án này, bị hại cũng có một phần lỗi là người đã đấm bị cáo trước, ôm chặt bị cáo dẫn đến bị cáo bức xúc cầm hung khí có sẵn nơi hai bên đánh nhau tấn công lại gây thương tích cho Ch bị hại. Sau khi gây án bị cáo cũng đã có thiện chí bồi thường thăm hỏi bị hại với số tiền 85.000.000đ, được bị hại làm đơn bãi nại. Trong quá trình điều tra luôn tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân chưa tiền án, tiền sự. Có nơi cư trú rõ ràng. Do bị cáo có nhiều tình

tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng. Đồng thời để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta, nặng về giáo dục và nhẹ về hình phạt, cũng nhằm mục đích tạo điều kiện cho các bị cáo tự cải tạo, giáo huấn bản thân để trở thành công dân tốt cho xã hội. Do đó, không cần buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại trại giam và nhận thấy việc áp dụng quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự để xử phạt các bị cáo mức án tù nhưng cho hưởng án treo là phù hợp và có căn cứ. [5]. Về trách nhiệm dân sự: Giữa các bên đã thỏa thuận xong về việc bồi thường. Bị hại cũng không yêu cầu bồi thường thêm, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết. [6]. Về xử lý vật chứng: Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 (Một) con dao (loại dao bầu) dài khoảng 34cm, cán bằng gỗ là hung khí gây án và 01 (Một) cái xẻng dài khoảng 1,1m cán bằng gỗ do ông Trần Văn Ng sử dụng đánh nhau với Bùi Đức Ch. [7]. QuA điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. [8]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy bAn thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo Ch phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Về tội dAh: Tuyên bố bị cáo Bùi Đức Ch phaïm tội "Cố ý gây thương tích”. - Về điều luật áp dụng: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ Luật hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy bA thường vụ Quốc Hội: - Về mức hình phạt: Xöû phaït bị cáo Bùi Đức Ch: 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Bùi Đức Ch cho UBND phường Tr, thành phố B, tỉnh Đ giám sát, giáo dục trong thời giA thử thách. Trong trường hợp bị cáo Bùi Đức Ch thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Gia đình bị cáo Bùi Đức Ch có trách nhiệm phối hợp với UBND Phường Trảng Dài trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong thời giA thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án

buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hính phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự. - Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã thoả thuận xong, không yêu cầu gì thêm, nên Toà án không đặt ra xem xét giải quyết. - Về xử lý vật chứng: Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 (Một) con dao (loại dao bầu) dài khoảng 34cm, cán bằng gỗ là hung khí gây án và 01 (Một) cái xẻng dài khoảng 1,1m cán bằng gỗ. (Vật chứng này được ghi nhận tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/11/2020 của Chi cục thi hành án dân sự Thành phố B) - Về án phí: Buộc bị cáo Ch phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. - Về quyền kháng cáo: Bị cáo Ch được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ