vanban.org

Bản án 700/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn chị Phan Ngọc A. Chị Phan Ngọc A được ly hôn với anh Nguyễn Khắc T. Quan hệ hôn nhân theo Giấy chứng nhận kết hôn số 62 ngày 22/10/2012 do UBND phường C, quận L, thành phố Hà Nội (nay là phường L, TP Hà Nội) chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phan Ngọc A - Nguyễn Khắc T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 - HÀ NỘI
Bản án số: 700/2026/HNGĐ -ST
Ngày: 30/06/2026

V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Nam

Các hội thẩm nhân dân: Bà Lưu Thị Hà, ông Trần Xuân Điệu

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Dương Tuấn Duy – Cán bộ Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Bùi Bách Thành - Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 06 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 5 – Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 479/2026/TLST-HNGĐ ngày 05/05/2026 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 222/2026/QĐXX ngày 19 tháng 06 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phan Ngọc A, sinh năm 1991; Địa chỉ: Số C, ngõ T, phường L, TP .; CCCD số: xxxxxxxxxxxx cấp ngày 08/04/2021 (Có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Khắc T, sinh năm 1985; Địa chỉ: Số B, ngách I Đ, phường V, TP .; CCCD số: xxxxxxxxxxxx cấp ngày 08/04/2021. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam S, C10, Bộ C (Có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và các lời khai tại Toà án, nguyên đơn chị Phan Ngọc A trình bày:

Chị và anh Nguyễn Khắc T có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại UBND phường C, quận L, thành phố Hà Nội (nay là phường L, TP Hà Nội), ngày 22/10/2012. Sau khi đăng ký kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2024 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Tháng 04 năm 2024, sau khi chị Ngọc A bị anh T đánh dẫn đến thương tích, và chị Ngọc A muốn ly hôn. Thời điểm đó anh T không đồng ý và dẫm đến hành vi xâm hại đến tính mạng của chị. Hiện nay, anh T1 đang phải chấp hành án tại Trại giam S, Cục C1, Bộ C về tội giết người. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn. Chị Ngọc A xin ly hôn với anh Nguyễn Khắc T.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Khắc P, sinh ngày 12/10/2013 và Nguyễn Ngọc Đan A1, sinh ngày 21/5/2022. Hiện hai con chung đang ở với chị Ngọc A1. Chị Phan Ngọc A có nguyện vọng chăm sóc nuôi dưỡng cả hai con chung. Hiện nay anh T đang chấp hành án nên chị Ngọc A không yêu cầu anh T cấp dưỡng.

Về tài sản chung và công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị Ngọc A xin chịu cả án phí ly hôn.

Bị đơn anh Nguyễn Khắc T có lời khai trình bày:

Anh và chị Phan Ngọc A có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại UBND phường C, quận L, thành phố Hà Nội (nay là phường L, TP Hà Nội), ngày 22/10/2012. Sau khi đăng ký kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2024 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống trong một thời gian dài. Cùng với tâm lý của bản thân anh do căng thẳng và áp lực kinh doanh dẫn đến không kiểm soát được hành vi đối với vợ. Đến ngày 14/05/2024 thì anh T bị bắt giữ do hành vi bạo lực của mình trong lúc mất kiểm soát vì chị Ngọc A đòi đưa 02 con đi theo lời xúi giục của người thân. Nên trung tuần tháng 04/2025, anh T đã sử dụng dòng điện từ thiết bị lưu trữ điện vào người chị Ngọc A ngày 14/04/2024. Ngày 25/03/2025, anh T bị Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội xử 12 năm tù về tội giết người theo Bản án số 194/2025/HSST. Sau đó Tòa án Cấp Cao xử phạt 09 năm tù. Nay trước yêu cầu ly hôn của chị Ngọc A, quan điểm của anh T là đồng ý ly hôn.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Khắc P, sinh ngày 12/10/2013 và Nguyễn Ngọc Đan A1, sinh ngày 21/5/2022. Hiện hai con chung đang ở với chị Ngọc A1. Chị Phan Ngọc A có nguyện vọng chăm sóc nuôi dưỡng cả hai con chung anh T đồng ý do hiện nay anh T đang chấp hành án không có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Ngọc A không yêu cầu anh T cấp dưỡng, anh T đồng ý

Về tài sản chung và công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, chị Ngọc A và anh T có đơn xin xét xử vắng mặt nên Toà án tiến hành xét xử theo quy định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hà Nội tại phiên toà phát biểu ý kiến: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng là nguyên đơn và bị đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 28 điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 68, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 272, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 và các Điều: 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hà Nội:

- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Ngọc A và anh T.

- Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Khắc P, sinh ngày 12/10/2013 và Nguyễn Ngọc Đan A1, sinh ngày 21/5/2022. Hiện hai con chung đang ở với chị Ngọc A1. Đề nghị giao 02 con chung cho chị Phan Ngọc A trực tiếp, chăm sóc nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Ngọc A không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị Tòa án không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung: Đề nghị không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Chị Ngọc A chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả diễn biến tại phiên toà, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng dân sự:

Chị Phan Ngọc A có đơn khởi kiện tranh chấp ly hôn đối với bị đơn là anh Nguyễn Khắc T. Hội đồng xét xử xác định vụ án có quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn”. Bị đơn là anh Nguyễn Khắc T trong vụ án có địa chỉ: Số B, ngách I Đ, phường V, TP .; CCCD số: xxxxxxxxxxxx cấp ngày 08/04/2021. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam S, C10, Bộ C nên căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Hà Nội.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Phan Ngọc A và bị đơn anh Nguyễn Khắc T có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về quan hệ hôn nhân:

Chị Phan Ngọc A và anh Nguyễn Khắc T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND phường C, quận L, thành phố Hà Nội (nay là phường L, TP Hà Nội), ngày 22/10/2012. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Phan Ngọc A, Hội đồng xét xử thấy rằng: Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn dai dẳng do bất đồng quan điểm sống và không có tiếng nói chung. Đỉnh điểm của mâu thuẫn là vào tháng 04/2024, do không kiểm soát được hành vi và áp lực cuộc sống, anh T đã có hành vi bạo lực nghiêm trọng, sử dụng dòng điện xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của chị Ngọc A. Anh T đã bị Tòa án cấp phúc thẩm xử phạt 09 năm tù về tội "Giết người" và hiện đang chấp hành án tại Trại giam S. Ngày 25/03/2025 anh T bị Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội xử 12 năm tù về tội giết người theo Bản án số 194/2025/HSST. Sau đó Tòa án Cấp Cao xử phạt 09 năm tù. Cuộc sống vợ chồng bị xáo trộn, niềm tin, tình yêu của người vợ đối với chồng không còn nữa.

Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Ngọc A và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Bản thân anh T khai cũng xác định tình cảm không còn và đồng ý ly hôn với chị Ngọc A. Yêu cầu xin ly hôn của chị Ngọc A là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3]. Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Khắc P, sinh ngày 12/10/2013 và Nguyễn Ngọc Đan A1, sinh ngày 21/5/2022. Hiện hai con chung đang ở với chị Ngọc A1 được chăm sóc ổn định. Anh Nguyễn Khắc T đang phải chấp hành án phạt tù, không có điều kiện thực tế để trực tiếp chăm sóc, giáo dục con và anh T cũng đồng ý giao cả hai con cho chị Ngọc A1 nuôi dưỡng. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt và sự phát triển ổn định về thể chất lẫn tinh thần của các cháu, cần giao cả 02 con chung là Nguyễn Khắc P và Nguyễn Ngọc Đan A1 cho chị Phan Ngọc A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Ngọc A không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[4]. Về tài sản chung và công nợ chung: Anh chị không yêu cầu Toà án xem xét nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

[5]. Về án phí: Chị Ngọc A phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 68, khoản 4 điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 272, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội:

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn chị Phan Ngọc A. Chị Phan Ngọc A được ly hôn với anh Nguyễn Khắc T. Quan hệ hôn nhân theo Giấy chứng nhận kết hôn số 62 ngày 22/10/2012 do UBND phường C, quận L, thành phố Hà Nội (nay là phường L, TP Hà Nội) chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung:

Xác nhận anh chị có 02 con chung là Nguyễn Khắc P, sinh ngày 12/10/2013 và Nguyễn Ngọc Đan A1, sinh ngày 21/5/2022. Giao 02 con chung cho chị Phan Ngọc A trực tiếp, chăm sóc nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Nguyễn Khắc T cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung và công nợ chung: Anh chị không yêu cầu Toà án giải quyết do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Chị Phan Ngọc A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị Ngọc A đã nộp 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai Ký hiệu: BLTU/26E số 0010562 ngày 04/05/2026 tại Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội. Nay chuyển thành án phí.

Án xử công khai sơ thẩm.

Chị Phan Ngọc A và anh Nguyễn Khắc T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND thành phố Hà Nội;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND khu vực 5 - Hà Nội

- Phòng thi hành án dân sự khu vực 5 - Hà Nội;

- UBND phường C, quận L, thành phố Hà Nội (nay là phường L, TP Hà Nội), ĐKKH ngày 22/10/2012

- Các đương sự;

- Lưu HS, VP.

Nguyễn Minh Nam HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ