- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản — án dân sự — "DSPT Công ty cổ phần TĐD - Trịnh Thị T"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bà Trịnh Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật t tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật t tụng dân sự; Điều 164 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B n án s : 70/2022/DSPT. Ngày: 23-9-2022 V/ v “kiện đòi tài sản, tranh chấp hợp đồng thuê tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Phương
Các thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Quế
Bà Nguyễn Minh Lý
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Thúy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên .
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Bà Lê Ngọc Kim Loan - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 19 tháng 9 năm 2022 và ngày 23 tháng 9 năm 2022, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý s 91/2021/DSPT ngày 01 tháng 12 năm 2021 về việc “ Kiện đòi tài s n, tranh chấp hợp đồng thuê tài s n” Do b n án dân sự sơ thẩm s 36/2021/DS-ST ngày 14/10/2021 của Tòa án nhân dân thành ph Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử s 105/2021/QĐ-PT ngày 30 tháng 12 năm 2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty cổ phần TĐD
Địa chỉ: Tổ 6, phường TD, thành ph TN, tỉnh Thái Nguyên
Người đại diện theo ủy quyền:
Ông Trần Mạnh C, sinh năm 1974 - Cán bộ văn phòng Công ty, có mặt.
Ông Nguyễn Văn Tùng, Cán bộ Công ty, vắng mặt.
2. Bị đơn: Bà Trịnh Thị T, sinh năm 1968, vắng mặt
Địa chỉ: Xóm NL, xã LS, thành ph TN, tỉnh Thái Nguyên
Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Kim N, sinh năm 1964
Địa chỉ: s nhà 21, tổ 3, phường TD, thành ph TN, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
3. Người kháng cáo: Bà Trịnh Thị T là bị đơn (người được ủy quyền bà Nguyễn Kim N).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo b n án sơ thẩm, nguyên đơn Công ty cổ phần TĐD, đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Mạnh C trình bày:
Công ty cổ phần TĐD (sau đây gọi tắt là Công ty TĐD) là chủ đầu tư dự án xây dựng chợ TD, thành ph Thái Nguyên. Trong quá trình xây dựng chợ chính, theo yêu cầu, Công ty có phương án xây dựng chợ tạm để tạm thời b trí các điểm kinh doanh trong thời gian xây dựng. Diện tích xây dựng chợ tạm nằm trong diện tích dự án xây dựng chợ TD, đã được UBND tỉnh Thái Nguyên cho thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công ty TĐD.
Việc xây dựng chợ tạm TD gồm dựng các dãy quầy bán hàng, khung thép mái tôn, kho ng 09 m2/ 01 quầy. Theo phương án đầu tư, qu n lý, xây dựng chợ tạm TD, các hộ kinh doanh sẽ góp v n 6.000.000 đồng/ 01 quầy, người góp v n sẽ được gi m trừ 30% vào s tiền thuê quầy hàng tháng. Sau khi xây dựng chợ tạm TD, Công ty TĐDđã tiến hành ký Hợp đồng cho các hộ kinh doanh thuê quầy.
Ngày 21/4/2011 Công ty ký hợp đồng cho bà Trịnh Thị T thuê quầy s 21, 22, 23, nay là quầy 137, 138, 139 dãy T4, thời hạn thuê là 12 tháng, chi phí thuê quầy là 400.000 đồng /quầy / tháng, bao gồm c tiền vệ sinh, tiền b o vệ. Công ty có thu của bà T s tiền 12.000.000 đồng để xây dựng quầy và bà T đã được gi m trừ vào 30% tiền thuê quầy hàng tháng theo đúng phương án xây dựng chợ tạm. Bà Trịnh Thị T đã nộp tiền thuê 03 quầy từ tháng 5/2012 đến hết tháng 7/2013. Từ tháng 8/2013 đến nay bà T không thanh toán tiền thuê quầy. Tháng 1, 2, 3 năm 2016 bà T nộp tiền b o vệ, vệ sinh cho 03 quầy 1.800.000 đồng.
Tháng 4/2016 cho đến nay bà T chiếm giữ 02 quầy s 133, 140 sử dụng để kinh doanh, tháng 01/2018 đến nay bà T chiếm giữ tiếp 02 quầy s 129, 130 sử dụng để kinh doanh, nhưng không thanh toán bất cứ kho n tiền nào cho Công ty.
Trong quá trình sử dụng các quầy bán hàng thuê của Công ty, bà Trịnh Thị T đã lắp đặt cửa cu n vào quầy s 137, 138 và lắp đặt cửa hộp thép bắn tôn quầy s 139. Cửa của các quầy bán hàng s 129, 130, 140 là khung Thép bắn tôn, cửa của quầy s 133 làm bằng khung thép lưới B40 do các chủ thuê quầy trước đây lắp đặt. Hiện nay chưa xác định được các chủ cũ ai là người lắp đặt, tên và địa chỉ ở đâu.
Thời hạn thuê quầy theo hợp đồng đã hết hạn từ tháng 3/2012. Bà T vi phạm hợp đồng, không tr tiền thuê quầy theo thỏa thuận. Công ty đề nghị Tòa án tuyên chấm dứt hợp đồng thuê quầy s 137, 138, 139 dãy T4, buộc bà T ph i tr lại 03 quầy bán hàng cho Công ty và s tiền thuê quầy bà T chưa nộp từ tháng 8/2013 tính đến hết tháng 7/2021 là 111.600.000 đồng. Bà T còn ph i tiếp tục tr kho n tiền thuê quầy theo tho thuận trong hợp đồng thuê quầy từ tháng 8 năm 2021 cho đến khi bàn giao quầy cho Công ty. Buộc bà T ph i tr lại cho Công ty 04 quầy bán hàng s 129, 130, 133, 140 đã chiếm giữ trái phép để kinh doanh.
Toà án đã t ng đạt các văn b n t tụng cho bà T, gồm Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, Thông báo tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà gi i, giấy triệu tập phiên toà cho bà Trịnh Thị T, nhưng bà T từ ch i không nhận, không ký vào biên b n giao nhận, không hợp tác.
Tại đơn đề nghị ngày 05/02/2021 bà Trịnh Thị T cho rằng, bà và các hộ kinh doanh đã t cáo công ty TĐDtừ năm 2012 đã có kết luận t cáo, vụ án có dấu hiệu lừa đ o chiếm đoạt tiền bán quầy, không ph i là vụ án dân sự.
Tại đơn kiến nghị ngày 12/7/2021 bà Trịnh Thị T trình bày: Ngày 14/7/2021 Toà án tiến hành thẩm định tại chỗ các ki ốt bán hàng của tôi tại chợ TD, nên tôi viết đơn này yêu cầu Toà án ghi vào biên bản vụ việc thẩm như sau:
Hiện chợ TD nói chung và chợ tạm xây dựng năm 2011 đều không có cửa, không có vách ngăn giữa các quầy với nhau, chợ tạm tôi đang ngồi kinh doanh được xây dựng đúng 04 cột sắt, lợp mái tôn, cửa quầy, vách ngăn, trần là do chúng tôi làm thêm.
Hiện tại có 11 quầy T4 của các hộ kinh doanh đã mua quầy của công ty. Tháng 3/2021 họ đã uỷ quyền cho người đại diện giữ nguyên hiện trạng để làm chứng cứ phục vụ công tác thanh tra. Các quầy 129, 130, 133, 140 trước đây kinh doanh quần áo không liên quan gì đến vụ án dân sự mà Toà đang thụ lý vụ án thuê quầy. Tại bản tự khai công ty nộp cho Toà án nêu, tôi Trịnh Thị T chiếm đoạt 04 quầy, Toà yêu cầu Công ty tố cáo ra cơ quan Thanh tra tỉnh, Công an điều tra tỉnh, vì dự án cấp tỉnh quản lý, nên thành phố không có thẩm quyền giải quyết. Yêu cầu xuất trình bản hợp đồng thuê quầy gốc.
Đại diện theo uỷ quyền của bà Trịnh Thị T, bà Nguyễn Kim N tại phiên toà ngày 28/9/2021 trình bày:
Năm 2011 bà Trịnh Thị T có nộp s tiền 73.000.000 đồng cho ông Phạm Đức Nghị là Phó Giám đ c Chi nhánh Công ty cổ phần TĐD tại Thái Nguyên để mua 03 quầy bán hàng chợ tạm TD. Bà T nộp tiền nhưng không có hoá đơn chứng từ để chứng minh. Bà N xác định chữ ký trong b n g c Hợp đồng thuê quầy ngày 21/4/2011 giữa Công ty TĐD với bà Trịnh Thị T và các hoá đơn giá trị gia tăng Công ty thu tiền của bà T đúng do bà T ký, tuy nhiên ông Nghị là phó Giám đ c không có văn b n uỷ quyền hợp lệ khi ký hợp đồng. Công ty đã thu tiền 03 quầy bán hàng của bà T, hành vi có dấu hiệu lừa đ o chiếm đoạt tài s n, bà T và các tiểu thương ở chợ TD đã có đơn khiếu nại, t cáo Công ty, đề nghị Toà án tạm đình chỉ để cơ quan Công an gi i quyết.
Tại phiên toà sơ thẩm ngày 14/10/2021 bà Nguyễn Kim N trình bày: Tại bút lục s 47, 48 trong hồ sơ vụ án có 02 b n phô tô giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Công ty TĐD, đây là b n phô tô có chữ ký của bà N, do bà N nộp trong hồ sơ vụ kiện của Công ty TĐD với bà N đã được Toà án nhân dân thành ph Thái Nguyên xét xử, nhưng lại có trong hồ sơ vụ án này là không đúng, đề nghị Toà án bỏ 02 bút lục này ra khỏi hồ sơ vụ án.
Tại b n án dân sự sơ thẩm s 36/2021/DS-ST Ngày 14/10/2021 của Tòa án nhân dân thành ph Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã Quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần TĐD đ i với bà Trịnh Thị T.
1.1. Buộc bà Trịnh Thị T ph i tháo dỡ cửa cu n, cửa khung sắt bắn tôn, thu dọn hàng hoá, tài s n tr lại cho Công ty cổ phần TĐD 03 quầy bán hàng s 137, 138, 139 dãy T4 chợ tạm TD, thuộc tổ 4, phường TD, thành ph Thái Nguyên.
1.2. Buộc bà Trịnh Thị T ph i thanh toán cho Công ty cổ phần TĐD s tiền thuê 03 quầy bán hàng s 137, 138, 139 dãy T4 chợ tạm TD, thuộc tổ 4, phường TD, thành ph Thái Nguyên tính đến hết tháng 7/2021 là 111.600.000 đồng (một trăm mười một triệu sáu trăm nghìn đồng).
Bà Trịnh Thị T còn ph i tiếp tục tr s tiền thuê 03 quầy bán hàng s 137, 138, 139 dãy T4 chợ tạm TD, theo giá thuê tho thuận trong hợp đồng thuê quầy ngày 21/4/2011, giữa Công ty cổ phần TĐD Chi nhánh Thái Nguyên với bà Trịnh Thị T, kể từ tháng 8/2021 cho đến khi bàn giao quầy cho Công ty cổ phần TĐD.
1.3. Buộc bà Trịnh Thị T ph i thu dọn hàng hoá, tài s n tr cho Công ty cổ phần TĐD 04 quầy bán hàng s 129, 130, 133, 140 chợ tạm TD, thuộc tổ 4, phường TD, thành ph Thái Nguyên.
2. Về án phí: Bà Trịnh Thị T ph i chịu 300.000 đồng và 5.580.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn tr Công ty cổ phần TĐD 4.800.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai s 0003962 ngày 04/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành ph Thái Nguyên.
3. Về chi phí t tụng: Ghi nhận Công ty cổ phần TĐD tự nguyện nộp s tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 1.600.000 đồng (đã thực hiện xong)
Ngày 20/10/2021 (theo dấu công văn đến là ngày 25/10/2021) bà Trịnh Thị T (người đại diện theo ủy quyền bà Nguyễn Kim N) làm đơn kháng cáo toàn bộ quyết định của b n án sơ thẩm đề nghị xem xét lại vụ án.
Tại phiên tòa xét xử phúc thẩm ngày 14/4/2022, bà N đề nghị Tòa án tiến hành trưng cầu giám định đ i với chữ ký của bà T trong b n hợp đồng thuê quầy ngày 21/4/2011 và hóa đơn giá trị gia tăng liên 1 ngày 01/9/2012 của Công ty cổ phần TĐD.
Ngày 08/6/2022 Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên lập biên b n làm việc với nội dung yêu cầu bà N cung cấp chữ ký tươi của bà Trịnh Thị T năm 2012 để làm mẫu so sánh. Tại buổi làm việc bà N là người đại diện theo ủy quyền của bà T xác định không giám định chữ ký trong hợp đồng thuê quầy ngày 21/4/2011, đề nghị giám định chữ ký bên dưới phần người mua hàng trong hóa đơn giá trị gia tăng, liên 1 ngày 01/9/2012 của Công ty cổ phần TĐD có ph i là chữ lý của bà T hay không, giám định chữ ký bên dưới phần thủ trưởng đơn vị trong hóa đơn giá trị gia tăng, liên 1 ngày 01/9/2012 có ph i là chữ ký của ông Bùi Văn C1 hay không. Bà N đã nộp tạm ứng chi phí giám định cho Tòa án. Tuy nhiên, sau khi xem xét yêu cầu giám định của bà N đ i với chữ ký của bà T và chữ ký của ông C1 trong hóa đơn giá trị gia tăng, liên 1 ngày 01/9/2012 thấy: Nguyên đơn Công ty cổ phần TĐD khởi kiện bà Trịnh Thị T về việc “Kiện đòi tài s n và tranh chấp hợp đồng thuê tài s n”. Công ty cổ phần TĐD, Chi nhánh Thái Nguyên khởi kiện bà Trịnh Thị T ph i tr lại 03 quầy bán hàng s 137, 138, 139 chợ tạm TD và s tiền thuê quầy bà T chưa thanh toán cho Công ty theo hợp đồng thuê quầy bà T đã ký kết với công ty ngày 21/4/2011. Đ i với hóa đơn giá trị gia tăng liên 1 ngày 01/9/2012 trong quá trình gi i quyết vụ án Công ty cổ phần TĐD đã xác định đó là hóa đơn do bà T nộp, Công ty cổ phần TĐD không khởi kiện đ i với hóa đơn này, quá trình gi i quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, bị đơn không có yêu cầu ph n t đ i với nguyên đơn. Do vậy, Tòa án không tiến hành trưng cầu giám định và tiếp tục xét xử vụ án.
Tại phần thủ tục phiên tòa, Hội đồng xét xử công b lý do không thực hiện trưng cầu giá định chữ ký của bà T và ông C1 trong hóa đơn giá trị gia tăng ngày 01/9/2012 và hoàn tr lại s tiền tạm ứng chi phí giám định cho bà N, nhưng bà N không nhận s tiền này mà tiếp tục đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa để giám định chữ ký tại Bộ Qu c phòng. Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của bà N và tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 19/9/2022 bà Nguyễn Kim N là người đại diện theo ủy quyền của bà Trịnh Thị T giữ nguyên nội dung kháng cáo và trình bày các căn cứ kháng cáo.
Đề nghị làm rõ công ty được tuyên tại phiên tòa có ph i là Công ty cổ phần TĐD khởi kiện bà T không. Bà N cho rằng Công ty cổ phần TĐD khởi kiện là do Sở kế hoạch Đầu tư H i phòng cấp, Công ty cổ phần TĐD do Sở kế hoạch đầu tư tỉnh Thái Nguyên cấp là hai công ty khác nhau. Tại phần nhận định b n án sơ thẩm có nhận định về phương án xây dựng chợ, đề nghị Hội đồng xét xử thu thập chứng cứ là phương án huy động 6.000.000đồng/1 quầy. Bà N cho rằng công ty đã vi phạm nghị định của chính phủ. Công ty không có hợp đồng góp v n và quyết định thu phí quầy 400.000đồng/01 quầy/1 tháng. Về hợp đồng thuê quầy: không có ủy quyền cho ông Nghị ký do vậy hợp đồng thuê quầy là vô hiệu và gi tạo. Bà T mua 03 quầy, ông Nghị đã thu 73 triệu nhưng không có hóa đơn, hóa đơn thu tiền ngày 01/9/2012 không ph i do bà T nộp. Đề nghị tòa tuyên hợp đồng vô hiệu, tài s n tr lại cho bà T, vụ án có dấu hiệu hình sự.
Ông Trần Mạnh C là người đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần TĐD trình bày quan điểm về các căn cứ kháng cáo của bị đơn và cho rằng chỉ có một Công ty cổ phần TĐD, ông Nghị có đủ thẩm quyền để ký hợp đồng, công ty đã cung cấp đủ các chứng cứ liên quan đến trình tự thủ tục thành lập, thẩm quyền của công ty TĐD. Về hợp đồng thuê quầy thời hạn 12 tháng, tuy nhiên sau khi hết hợp đồng không ký lại hợp đồng mới có thỏa thuận miệng với bà T và tiếp tục thực hiện như nội dung của hợp đồng cũ, thực tế bà Trịnh Thị T đã nộp tiền thuê quầy từ tháng 5/2012 đến tháng 7 năm 2013, từ tháng 8/2013 phía công ty yêu cầu bà Trịnh Thị T ký hợp đồng nhưng bà T không ký mà tiếp tục chiếm dụng. Công ty yêu cầu bà T ph i tr lại cho công ty các quầy đang chiếm dụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu sự tuân theo pháp luật của Thẩm phán, chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật t tụng dân sự. Về quan điểm gi i quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử. Căn cứ kho n 1 Điều 308 Bộ luật t tụng dân sự, Nghị quyết s 326 ngày 30/12/2016 của Qu c hội. Bác toàn bộ kháng cáo của bà Trịnh Thị T. Giữ nguyên b n án dân sự sơ thẩm s 36/2021/DS-ST Ngày 14/10/2021 của Tòa án nhân dân thành ph Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Bà T ph i chịu án phí phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết qu tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:
[1.] Về thủ tục t tụng: Đơn kháng cáo của bà Trịnh Thị T (người đại diện theo ủy quyền bà Nguyễn Kim N) làm trong hạn luật định, đã nộp dự phí kháng cáo nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2.] Xét các nội dung kháng cáo của bà Trịnh Thị T, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Công ty TĐD được qu n lý, điều hành chợ TD kể từ ngày 01/12/2009.
Ngày 22/6/2010 UBND tỉnh Thái Nguyên ký hợp đồng cho Công ty TĐDthuê 12.488,5 m2 đất tại thửa 918, tờ b n đồ địa chính s 04 phường TD, thành ph Thái Nguyên kể từ tháng 5/2010 đến tháng 5/2059. Ngày 06/7/2010 UBND tỉnh Thái Nguyên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công ty cổ phần TĐD diện tích đất nêu trên.
Trong quá trình xây dựng chợ TD, tháng 02/2011 Công ty TĐDChi nhánh tại Thái Nguyên lập phương án đầu tư xây dựng, qu n lý chợ tạm TD để tạm thời b trí các điểm kinh doanh trong thời gian xây dựng. Diện tích xây dựng chợ tạm nằm trong diện tích dự án chợ TD, đã được UBND tỉnh Thái Nguyên cho thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công ty TĐD.
Ngày 21/4/2011 Công ty TĐD, Chi nhánh Thái Nguyên với bà Trịnh Thị T ký hợp đồng thuê quầy s 21, 22, 23 tại chợ tạm TD (nay là quầy s 137, 138, 139). Tại hợp đồng thuê các bên tho thuận: Thời hạn thuê là 01 năm, bắt đầu từ tháng 3/2011 đến tháng 3/2012. Sau một năm nếu có nhu cầu thuê tiếp thì hai bên sẽ ký hợp đồng thuê tiếp. Tiền thuê quầy là 400.000 đồng/ tháng, bao gồm tiền thuê quầy, tiền b o vệ, vệ sinh. Bà T đã nộp tiền thuê 03 quầy từ tháng 5/2012 đến hết tháng 7/2013 và nộp tiền phí b o vệ, vệ sinh các tháng 1,2,3 năm 2016. Từ đó đến nay bà T không nộp tiền thuê quầy theo tho thuận trong hợp đồng. Ngày 26/4/2014 và ngày 15/5/2014 Công ty TĐD có văn b n yêu cầu bà T ph i thanh toán kho n tiền thuê quầy nhưng bà T không thực hiện. Ngày 29, 30/6/2014 Công ty có Thông báo yêu cầu bà T ph i thu dọn hàng hoá, tài s n để tr lại ki t, mặt bằng cho công ty.
Như vậy, bà Trịnh Thị T là bên thuê đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán được tho thuận trong Hợp đồng thuê quầy đã ký với Công ty theo quy định tại Điều 481, Điều 482 Bộ luật dân sự. Đại diện theo uỷ quyền của bà T, bà Nguyễn Kim N cho rằng, bà T đã nộp s tiền 73.000.000 đồng cho ông Phạm Đức Nghị là Phó giám đ c công ty, nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ để chứng minh, Công ty TĐD không thừa nhận lời trình bày của bà N. Công ty cho rằng s tiền 12.000.000 đồng bà T nộp theo hoá đơn Giá trị gia tăng ngày 01/9/2012 là kho n tiền góp v n xây dựng quầy không liên quan gì đến kho n tiền Công ty yêu cầu bà T thanh toán tiền thuê quầy từ tháng 8/2013.
Đ i với 04 quầy bán hàng s 129, 130, 133, 140 nằm trong dự án xây dựng chợ tạm TD, do công ty TĐD xây dựng hiện đang do bà Trịnh Thị T qu n lý sử dụng. Bà T không có tài liệu nào chứng minh cho việc sử dụng là có căn cứ.
Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần TĐD đ i với bà Trịnh Thị T. Buộc bà Trịnh Thị T ph i tháo dỡ cửa cu n, cửa khung sắt bắn tôn, thu dọn hàng hoá, tài s n tr lại cho Công ty cổ phần TĐD 03 quầy bán hàng s 137, 138, 139 dãy T4 chợ tạm TD, thuộc tổ 4, phường TD, thành ph Thái Nguyên. Buộc bà Trịnh Thị T ph i thanh toán cho Công ty cổ phần TĐD s tiền thuê 03 quầy bán hàng s 137, 138, 139 dãy T4 chợ tạm TD, thuộc tổ 4, phường TD, thành ph Thái Nguyên tính đến hết tháng 7/2021 là 111.600.000 đồng (một trăm mười một triệu sáu trăm nghìn đồng). Bà Trịnh Thị T còn ph i tiếp tục tr s tiền thuê 03 quầy bán hàng s 137, 138, 139 dãy T4 chợ tạm TD, theo giá thuê tho thuận trong hợp đồng thuê quầy ngày 21/4/2011, giữa Công ty cổ phần TĐD Chi nhánh Thái Nguyên với bà Trịnh Thị T, kể từ tháng 8/2021 cho đến khi bàn giao quầy cho Công ty cổ phần TĐD. Buộc bà Trịnh Thị T ph i thu dọn hàng hoá, tài s n tr cho Công ty cổ phần TĐD 04 quầy bán hàng s 129, 130, 133, 140 chợ tạm TD, thuộc tổ 4, phường TD, thành ph Thái Nguyên là có căn cứ.
Kháng cáo của bà Trịnh Thị T Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận.
Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại phiên tòa là có căn cứ.
Về án phí: Bà T ph i chịu án phí phúc thẩm.
Về tạm ứng chi phí giám định 10.000.000đồng do không thực hiện trưng cầu giám định, Tòa án đã hoàn tr tạm ứng chi phí giám định cho bà N tại phiên tòa ngày 19/9/2022. Tuy nhiên, bà N không nhận lại tiền. Ngày 23/9/2022, Tòa án đã chuyển toàn bộ s tiền trên đến Chi cục thi hành án dân sự thành ph Thái Nguyên để thi hành b n án, tr lại cho bà N theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ kho n 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật t tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bà Trịnh Thị T.
Giữ nguyên b n án dân sự sơ thẩm s 36/2021/DS-ST ngày 14/10/2021 của Tòa án nhân dân thành ph Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Áp dụng: kho n 2,3 Điều 26, Điều 35, kho n 1 Điều 39, Điều 157, Điều 227, Điều 228 Bộ luật t tụng dân sự; Điều 164, Điều 166, Điều 473, 474, Điều 481, 482, Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí; Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần TĐD đ i với bà Trịnh Thị T.
1.1. Buộc bà Trịnh Thị T ph i tháo dỡ cửa cu n, cửa khung sắt bắn tôn, thu dọn hàng hoá, tài s n tr lại cho Công ty cổ phần TĐD 03 quầy bán hàng s 137, 138, 139 dãy T4 chợ tạm TD, thuộc tổ 4, phường TD, thành ph Thái Nguyên.
1.2. Buộc bà Trịnh Thị T ph i thanh toán cho Công ty cổ phần TĐD s tiền thuê 03 quầy bán hàng s 137, 138, 139 dãy T4 chợ tạm TD, thuộc tổ 4, phường TD, thành ph Thái Nguyên tính đến hết tháng 7/2021 là 111.600.000 đồng (một trăm mười một triệu sáu trăm nghìn đồng).
Bà Trịnh Thị T còn ph i tiếp tục tr s tiền thuê 03 quầy bán hàng s 137, 138, 139 dãy T4 chợ tạm TD, theo giá thuê tho thuận trong hợp đồng thuê quầy ngày 21/4/2011, giữa Công ty cổ phần TĐD Chi nhánh Thái Nguyên với bà Trịnh Thị T, kể từ tháng 8/2021 cho đến khi bàn giao quầy cho Công ty cổ phần TĐD.
1.3. Buộc bà Trịnh Thị T ph i thu dọn hàng hoá, tài s n tr cho Công ty cổ phần TĐD 04 quầy bán hàng s 129, 130, 133, 140 chợ tạm TD, thuộc tổ 4, phường TD, thành ph Thái Nguyên.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trịnh Thị T ph i chịu 300.000 đồng và 5.580.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn tr Công ty cổ phần TĐD 4.800.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai s 0003962 ngày 04/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành ph Thái Nguyên.
Án phí dân sự phúc thẩm: bà Trịnh Thị T ph i nộp 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm, được chuyển từ s tiền 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu s 0000655 ngày 28/10/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành ph Thái Nguyên.
3. Về chi phí t tụng: Ghi nhận Công ty cổ phần TĐD tự nguyện nộp s tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 1.600.000 đồng (đã thực hiện xong).
Hoàn tr 10.000.000đồng (mười triệu đồng) tạm ứng chi phí giám định cho bà Nguyễn Kim N (người đại diện theo ủy quyền của bà Trịnh Thị T) tại biên lai thu tiền s 0000705 ngày 23/9/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành ph Thái Nguyên.
Trường hợp B n án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người ph i thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
B n án phúc thẩm có hiệu lực thi hành./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - TAND TP Thái Nguyên; - Chi cục THADS TP Thái Nguyên; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án; Tòa Dân sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Hồng Phương |