- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D - tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2026/HS-ST Ngày 28-4-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- HƯNG YÊN
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đào Thị Thu Hương.
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Giang
Bà Trương Thị Thanh Thuý.
- Thư ký phiên toà: Ông Dương Văn Tùng - Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 2- Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Yến- Kiểm sát viên.
Ngày 28/4/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2, tỉnh Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 73/2026/TLST-HS ngày 16/04/2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2026/QĐXXST-HS ngày 16/04/2026, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn D, sinh năm1996, nơi cư trú: Thôn Đ, xã P, Thành phố Hà Nội; CCCD số 001096005641 cấp ngày 29/3/2022; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D1 và con bà Kiều Thị C; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 31/8/2018, bị Ủy ban nhân dân quận N, Thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: Mua, bán, vận chuyển, tàng trữ vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/02/2026 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 Công an tỉnh H. Có mặt.
Người làm chứng: Anh Tạ Tiến T, sinh năm 1995, trú tại: Thôn Đ, xã P, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
Người chứng kiến: Anh Nguyễn Viết N, sinh năm 1989, trú tại: Thôn L, xã N, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu mua pháo hoa nổ về để sử dụng nên 17 giờ ngày 10/02/2026, Nguyễn Văn D, sinh năm 1996, trú tại: Thôn Đ, xã P, thành phố Hà Nội đã dùng điện thoại di động của mình lên mạng xã hội TikTok tìm mua pháo. Khi phát hiện thấy 01 tài khoản (đến nay D không xác định được tên tài khoản) có đăng bán pháo hoa nổ, D đã chủ động sử dụng số điện thoại của mình (0366919996) gọi điện đến số điện thoại mà tài khoản bán pháo để lại trên bài đăng (0898080167) đặt vấn đề mua pháo hoa nổ. Sau khi thỏa thuận, người đàn ông sử dụng số điện thoại 0898080167 (D không biết tên, tuổi cụ thể) đồng ý bán cho D 08 hộp pháo nổ loại giàn 36 quả với giá 4.800.000 đồng (600.000 đồng/1 hộp), hẹn đến 23 giờ 30 phút cùng ngày sẽ giao nhận pháo tại khu vực Phố N, tỉnh Hưng Yên.
Khoảng 21 giờ cùng ngày, D thuê anh Tạ Tiến T, sinh năm 1995 làm nghề lái xe taxi ở cùng thôn điều khiển xe ô tô VinFat Herio Green màu xanh, biển số: 29E-362.97 chở D đến khu vực Phố N, tỉnh Hưng Yên nói là đi có việc nhưng thực tế để nhận pháo nổ đã hẹn mua trước đó. Đến nơi, D điện thoại liên lạc với người đàn ông bán pháo thì được người này sử dụng tài khoản tên “Hoàng Duy H” kết bạn Zalo và gửi vị trí định vị địa điểm giao nhận pháo tại thôn L, xã N, tỉnh Hưng Yên. Theo định vị, D bảo anh T chở đến điểm hẹn (lúc này khoảng 0h ngày 11/02/2026) thì gặp 01 người đàn ông mặc quần áo màu đen, đeo khẩu trang, người này chỉ cho D về phía lề đường có 01 thùng carton đồng thời yêu cầu D chuyển tiền theo thỏa thuận. Do D bảo phải về dùng thử xem có đúng pháo hoa nổ hay không sau đó mới chuyển tiền thanh toán nên người thanh niên đồng ý và rời đi. Dưỡng mở thùng carton ra kiểm tra thấy bên trong có chứa 08 hộp pháo hoa nổ, bên ngoài có dán vỏ màu đỏ - vàng, loại giàn 36 quả đúng như thỏa thuận nên đã bê thùng carton đi về phía xe ô tô anh T điều khiển. Khi D đang bê thùng carton trên thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát kinh tế - Công an tỉnh H phối hợp với Công an xã N, tỉnh Hưng Yên bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ:
- 01 thùng bìa carton màu nâu, bên trong có 08 vật hình hộp chữ nhật, mỗi vật đều có kích thước (14x14x15)cm, bên ngoài dán vỏ màu đỏ - vàng, trên vỏ các hình hộp chữ nhật đều ghi chữ nước ngoài (niêm phong theo quy định).
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A06 màu trắng, trong máy nắp 01 sim nhà mạng Viettel số 0366919996, 01 sim nhà mạng Viettel số 0983385204 của Nguyễn Văn D.
- 01 điện thoại di động Iphone 15 Promax màu đen của anh Tạ Tiến T và 01 xe ô tô VinFast Herio Green màu xanh, biển số 29E-362.97. Ngoài ra, anh T còn tự nguyện giao nộp 01 bản photo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô trên số: 2900100148 và 01 Giấy chứng nhận đăng kiểm an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới, số: XA 0231583 của xe ô tô trên.
Ngày 11/02/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn D tại: Thôn Đ, xã P, Hà Nội. Kết quả: Không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Kết luận giám định số 456/KL-KTHS ngày 13/02/2026 của Phòng K - Công an tỉnh H xác định: 08 vật hình hộp chữ nhật, mỗi vật đều có kích thước (14x14x15)cm, bên ngoài dán vỏ màu đỏ - vàng, trên vỏ các hình hộp chữ nhật đều ghi chữ nước ngoài thu giữ của Nguyễn Văn D nêu trên là pháo hoa nổ, có tổng khối lượng là 12 kg (H1 lại đối tượng giám định: Không).
Ngày 13/02/2026, Cơ quan điều tra có công văn số 3575 yêu cầu Công ty cổ phần V xác minh, điều tra làm rõ tên, tuổi, địa chỉ của chủ tài khoản mạng xã hội Zalo có tên “Hoàng Duy H”. Kết quả: Công ty cổ phần V không đủ căn cứ để cung cấp thông tin về tài khoản Zalo có tên “Hoàng Duy H”.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra có công văn số 3573 yêu cầu Tổng công ty V1 cung cấp thông tin về chủ thuê bao, cuộc gọi đi, gọi đến vị trí cuộc gọi, tin nhắn số điện thoại 0898080167. Kết quả xác định chủ thuê bao trên là: Trương Thị Ngọc D2, sinh ngày 10/02/1998, CCCD số: 089198009183, địa chỉ: Phường M, tỉnh An Giang). Quá trình làm việc, chị D2 trình bày: Không đăng ký, sử dụng số điện thoại 0898080167, không cho ai thuê, mượn thẻ căn cước công dân để đăng ký chủ sở hữu số điện thoại nêu trên, không biết, không trao đổi bán pháo cho Nguyễn Văn D.
Quá trình điều tra Nguyễn Văn D đã khai nhận hành vi phạm tội.
Cáo trạng số 44/CT-VKSHYN-P3 ngày 15/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố Nguyễn Văn Dưỡng về tội Tàng trữ hàng cấm theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hưng Yên trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồi xét xử, tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội Tàng trữ hàng cấm. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn D từ 07 tháng tù đến 9 tháng tù, thời hạn tính từ ngày 11/02/2026, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Ngoài ra, còn đề nghị về các biện pháp tư pháp và án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an tỉnh H và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Kết luận giám định số 456/KL- KTHS ngày 13/02/2026 của Phòng K- Công an tỉnh H, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 11/02/2026, tại thôn L, xã N, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Văn D đã có hành vi tàng trữ 12 kg pháo nổ (pháo hoa nổ) mục đích để sử dụng thì bị bắt
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố Nguyễn Văn D về tội “Tàng trữ hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các ngành nghề mà Nhà nước cấm.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình tố tụng bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Quyết định hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, cần tiếp tục cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian, với mức án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về các biện pháp tư pháp:
Đối với 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A06 đã thu giữ của bị cáo D là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch sung ngân sách nhà nước.
Đối với 01 bìa carton màu nâu sử dụng để đựng pháo nổ là vật không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Toà án. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định; bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội: “Tàng trữ hàng cấm”.
3. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn D 07 (Bẩy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/02/2026.
4. Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tiêu hủy 01 bìa Carton màu nâu.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 phong bì niêm phong, bên ngoài ký hiệu “Điện thoại Dưỡng” bên trong phong bì có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A06, số máy SM-A065F/DS, seri R83Y30WXFAL, số IME11: 355758536403862, số IME12: 3589011296403865.
(Số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 28/4/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên)
5. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hưng Yên; - Công an tỉnh Hưng Yên; - VKSND KV2- tỉnh Hưng Yên; - THADS tỉnh Hưng Yên; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Thu Hương |