- Tranh chấp gì? án hình sự — "TVUT-CYGTT - cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Tống Văn Út N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2026/HS-ST Ngày 23-6-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Nghĩa
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hoàng Minh
Ông Ngô Văn Khon
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Giang, Thư ký của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhàn, Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2026 tại Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 84/2026/TLST-HS ngày 27/5/2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2026/QĐXXST-HS ngày 05/6/2026, đối với bị cáo:
Tống Văn Út N, sinh ngày 20/9/1995 tại Đồng Tháp. Nơi cư trú: Ấp B, xã T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 00/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tống Văn C (chết) và bà Nguyễn Thị B (chết); vợ, con chưa có; tiền án: Ngày 25/5/2023, bị TAND huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp (nay là TAND khu vực 11 - Đồng Tháp) xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 14/2023/HS-ST, chấp hành án xong ngày 28/12/2023, chưa thi hành án phí số tiền 500.000 đồng và tiền bồi thường thiệt hại cho bà Trần Thị N1 số tiền 3.938.000 đồng (chưa xóa án tích); tiền sự: Không; tạm giữ: Ngày 29/01/2026; tạm giam: Ngày 07/02/2026; Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam T; có mặt.
- Bị hại: Bà Hà Thị H, sinh năm 1965; Địa chỉ: Ấp B, xã T, tỉnh Đồng Tháp; có mặt.
- Người làm chứng:
1. Bà Phạm Thị N2, sinh năm 1965; Địa chỉ: Ấp A, xã P, tỉnh Đồng Tháp; vắng mặt.
2. Anh Phạm Dũng N3, sinh năm 1973; Địa chỉ: Ấp D, xã T, tỉnh Đồng Tháp; vắng mặt.
3. Anh Đặng Văn Chủng E, sinh năm 1973; Địa chỉ: Ấp A, xã T, tỉnh Đồng Tháp; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 07 giờ 20 phút ngày 29/01/2026, bà Hà Thị H đang ngồi ghế tại khu vực gần cổng chợ T1 thuộc ấp B, xã T, tỉnh Đồng Tháp để uống nước. Lúc này, Tống Văn Út N đang ngồi bán vé số ngay cổng chợ cách chỗ bà H khoảng 05 mét và đã uống bia say, nhớ lại chuyện nghe người khác nói lại bà H nói Út N có hành vi trộm cắp tài sản nên tức giận. Út Nhỏ đến sạp tạp hóa của bà Phạm Thị N2 trong khu vực chợ mua 02 con dao, 01 con dao cầm trên tay phải, con dao còn lại cất giấu trong túi quần, Út N đi lại chỗ bà H ngồi, cầm dao trên tay phải đâm 01 nhát trúng vào vùng lưng của bà H gây thương tích. Sau đó người dân cùng nhau khống chế Út N và trình báo Công an xã T đến giải quyết. Bà H được người dân đưa đến Trung tâm y tế khu vực T cấp cứu, sau đó chuyển đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đ để điều trị.
Công an xã T đến hiện trường lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Tống Văn Út N, báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tiến hành trưng cầu giám định thương tật ngay đối với bà H theo quy định pháp luật.
* Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 73/KLTTCT-TTPYĐT, ngày 06/02/2026 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hà Thị H tại thời điểm giám định là 02%, vết thương thành sau ngực phải do vật sắt nhọn gây nên, có chiều hướng từ sau ra trước, vết dẫn lưu đường nách trước bên phải do phẩu thuật, đề nghị Giám định bổ sung sau khi đương sự điều trị ổn định.
Ngày 16/3/2026, sau khi điều trị ổn định, Hà Thị H yêu xử lý hình sự đối với Tống Văn Út N về hành vi cố ý gây thương tích như đã nêu trên.
* Kết luận giám định bổ sung tổn thương trên cơ thể người sống số 188/KLTTCT-TTPYĐT, ngày 08/4/2026 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể bổ sung của Hà Thị H tại thời điểm giám định là 05%, sẹo vết thương thành sau ngực phải do vật sắt nhọn gây nên, có chiều hướng từ sau ra trước, sẹo vết dẫn lưu đường nách trước bên phải do phẩu thuật.
* Vật chứng thu giữ gồm:
- 02 con dao thái lan đều có đặc điểm giống nhau, mỗi dao có tay cầm bằng nhựa màu vàng, lưỡi kim loại màu trắng, mỗi dao có tổng chiều dài 21,5cm, lưỡi dài 11cm, rộng nhất 1,8cm, 1 cạnh sắc, mũi nhọn, trên lưỡi có chữ “KIWI-BRAND MADE IN THAILAND”, tay cầm dài 10,5cm, rộng 1,8cm.
- 01 tệp video có tên: “7516283142759.mp4” được lưu trong đĩa DVD ghi nhận vụ việc xảy ra tại hiện trường.
* Kết luận giám định số A277, A278/KL-KTHS cùng ngày 06/02/2026 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: 02 con dao gửi giám định nêu trên gửi giám định không thuộc danh mục ban hành kèm theo Thông tư số: 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ trưởng Bộ C1 quy định chi tiết một số điều của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
* Kết luận giám định số: A524/KL-KTHS ngày 13/3/2026 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: 01 tệp video có tên: “7516283142759.mp4” được lưu trong đĩa DVD gửi giám định nêu trên không bị cắt ghép, chỉnh sửa về nội dung hình ảnh.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Hà Thị H không yêu cầu Út Nhỏ bồi thường về dân sự, chỉ yêu cầu xử lý hình sự theo quy định pháp luật.
Tại Bản cáo trạng số: 101/CT-VKS ngày 25/5/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp truy tố bị cáo Tống Văn Út N phạm tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo Tống Văn Út N về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ a, i khoản 1 Điều 134; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Tống Văn Út N, phạm tội “Cố ý gây thương tích” mức hình phạt từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại H không yêu cầu nên đề nghị không xem xét, giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
+ Tịch thu, tiêu hủy 02 con dao thái lan đều có đặc điểm giống nhau, mỗi dao có tay cầm bằng nhựa màu vàng, lưỡi kim loại màu trắng, mỗi dao có tổng chiều dài 21,5cm, lưỡi dài 11cm, rộng nhất 1,8cm, 1 cạnh sắc, mũi nhọn, trên lưỡi có chữ “KIWI-BRAND MADE IN THAILAND”, tay cầm dài 10,5cm, rộng 1,8cm.
+ Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 tệp video có tên: “7516283142759.mp4” được lưu trong đĩa DVD ghi nhận vụ việc xảy ra tại hiện trường.
Bị cáo Tống Văn Út N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội “Cố ý gây thương tích” như nội dung cáo trạng đã truy tố, thống nhất với luận tội của Kiểm sát viên, không tham gia tranh luận.
Bị hại Hà Thị H trình bày: Thống nhất với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Út N về tội “Cố ý gây thương tích” theo a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự và luận tội của Kiểm sát viên. Về trách nhiệm hình sự yêu cầu xử lý bị cáo Út N theo quy định của pháp luật, về trách nhiệm dân sự: Không yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.
Lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình sai, bị cáo xin lỗi bị hại H và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Toà án đã triệu tập hợp lệ những người làm chứng đến tham gia phiên toà, nhưng họ vắng mặt không có lý do. Quá trình điều tra, những người làm chứng đã có lời khai lưu vào trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt người làm chứng theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản khám nghiệm hiện trường, Sơ đồ hiện trường và Bản ảnh cùng ngày 29/01/2026 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ; Lời khai bị hại và người làm chứng, cùng toàn bộ chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 29/01/2026, tại ấp B, xã T, tỉnh Đồng Tháp, khi đang có bia trong người, bị cáo Út N nhớ lại sự việc nghe người khác nói bị hại H nói xấu mình, chỉ là mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống, nhưng với bản tính côn đồ, bị cáo Út N liền đến tiệm tạp hóa gần đó mua 2 cây dao thái lan là hung khí sắt nhọn nguy hiểm, bị cáo lấy 01 con dao cất giấu trong túi quần và 01 con dao bị cáo cầm trên tay phải tiến đến nơi bị hại H đang ngồi đâm từ sau ra trước 01 nhát trúng thành sau ngực phải của bị hại H với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 05%.
Do đó, Cáo trạng số 101/CT-VKS ngày 25/5/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp truy tố bị cáo Tống Văn Út N phạm tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tại không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
…
i) Có tính chất côn đồ;
…”.
Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn từ trước, khi đang có bia trong người chỉ nghe người khác nói bị hại H nói xấu bị cáo, tức giận nhất thời không kiềm chế bản thân đã dùng dao Thái Lan đâm vào đâm trúng thành sau ngực phải của bị hại H với lỗi cố ý trực tiếp.
Hành vi của bị cáo là xem thường pháp luật, nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác trái pháp luật, ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương. Qua đó, thấy được ý thức xem thường pháp luật của bị cáo nên cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo để có tác dụng phòng ngừa, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội.
Về tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Ngày 25/5/2023, bị cáo Út N bị TAND huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp (nay là TAND khu vực 11 - Đồng Tháp) xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 14/HS-ST, chấp hành án xong ngày 28/12/2023, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; hoàn cảnh gia đình khó khăn, được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại H không yêu cầu bị cáo Út N bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Xét thấy, 02 con dao thái lan công cụ phạm tội, vật chứng của vụ án nên bị tịch thu, tiêu hủy và 01 tệp video có tên: “7516283142759.mp4” được lưu trong đĩa DVD ghi nhận vụ việc xảy ra tại hiện trường là chứng cứ của vụ án nên tiếp tục lưu hồ sơ vụ án là đúng quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, phù hợp với nhận định nêu trên nên chấp nhận.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Út N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào điểm a, i khoản 1 Điều 134; Điều 38; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, được sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Tuyên bố bị cáo Tống Văn Út N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Tống Văn Út N 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ 29/01/2026.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, được sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Tịch thu, tiêu hủy 01 con dao có tay cầm bằng nhựa màu vàng, lưỡi kim loại màu trắng, tổng chiều dài 21,5cm, lưỡi dài 11cm, rộng nhất 1,8cm, 1 cạnh sắc, mũi nhọn, trên lưỡi có chữ “KIWI-BRAND MADE IN THAILAND”, tay cầm dài 10,5cm, rộng 1,8cm, được niêm phong trong túi niêm phong mã số PS3 24222636.
Tịch thu, tiêu hủy 01 con dao có tay cầm bằng nhựa màu vàng, lưỡi kim loại màu trắng, tổng chiều dài 21,5cm, lưỡi dài 11cm, rộng nhất 1,8cm, 1 cạnh sắc, mũi nhọn, trên lưỡi có chữ “KIWI-BRAND MADE IN THAILAND”, tay cầm dài 10,5cm, rộng 1,8cm, được niêm phong trong túi niêm phong mã số PS3 24222637.
Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 tệp video có tên: “7516283142759.mp4” được lưu trong đĩa DVD ghi nhận vụ việc xảy ra tại hiện trường.
3. Về án phí sơ thẩm: Căn khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự (đã được sửa đổi, bổ sung), Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Tống Văn Út N phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự.
Bị cáo, bị hại có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND khu vực 11 - Đồng Tháp; - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - Bị cáo; - Bị hại; - CQ CSĐT CA tỉnh Đồng Tháp; - CQ THAHS CA tỉnh Đồng Tháp; - Phân trại tạm giam Tam Nông; - THADS tỉnh Đồng Tháp; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Tấn Nghĩa |