- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị K-Nguyễn Thanh T ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị K được ly hôn anh Nguyễn Thanh T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình xử; Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2-HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2026/HNGĐ-ST Ngày 17-4-2026 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Bùi Thị Nhàn
2. Bà Nguyễn Thị Thoa
- Thư ký phiên toà: Ông Lương Đăng Bùi - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2- Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2- Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở, Toà án nhân dân khu vực 2- Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 196/2025/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 36/2026/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị K, sinh năm 1983; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; nơi cư trú: Cụm D, tổ dân phố D, phường A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1980; căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; nơi cư trú: Cụm D, tổ dân phố D, phường A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và quá trình tố tụng nguyên đơn là chị Nguyễn Thị K trình bày:
Chị chung sống với anh Nguyễn Thanh T trên cơ sở hai bên đều tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện A (nay là phường A), thành phố Hải Phòng số 06/2004 ngày 11/02/2004. Sau ngày cưới hai bên về chung sống tại A, Hải Phòng. Quá trình chung sống, vợ chồng sống hòa thuận, vui vẻ cho đến từ năm 2010 trở lại đây thì phát sinh mâu thuẫn cãi vã lẫn nhau nguyên nhân là do vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, vợ chồng đã nhiều lần xảy ra tranh cãi bất hòa với nhau dẫn đến cuộc sống vợ chồng luôn trong tình trạng căng thẳng nghiêm trọng. Vì con chung hai bên nói chuyện nhiều lần nhưng thời gian ngắn lại phát sinh mâu thuẫn, chị đã tìm cách khắc phục nhưng không được. Hai bên sống ly thân 10 năm nay không còn quan tâm đến nhau. Do tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không còn, mâu thuẫn nghiêm trọng không khắc phục được, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T.
Về con chung: Chị và anh Nguyễn Thanh T có 02 con chung là Nguyễn Thanh Q, sinh ngày 06/12/2004, Nguyễn Ngọc Như Ý, sinh ngày 01/01/2012. Đề nghị Tòa án giao con chung Nguyễn Ngọc Như Ý cho chị nuôi dưỡng sau ly hôn. Về cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn chị và anh T tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Con chung Nguyễn Thanh Q đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Thanh T: AnhTuấn đã được Tòa án nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để đến Tòa án giải quyết việc chị Nguyễn Thị Kim X ly hôn, con chung, cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn, tài sản chung nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do, không có lời khai gửi Tòa án.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vi phạm các điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự, vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án không có lý do.
Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào các điều 28, 147, 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 39 Bộ luật Dân sự: Xử cho chị Nguyễn Thị K được ly hôn anh Nguyễn Thanh T. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Ngọc Như Ý, sinh ngày 01/01/2012 cho chị Nguyễn Thị K nuôi dưỡng, con chung Nguyễn Thanh Q đã trưởng thành không xem xét giải quyết. Về cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung: Không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị Nguyễn Thị K phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Chị Nguyễn Thị Kim khởi K1 xin ly hôn anh Nguyễn Thanh T có nơi cư trú: Phường A, thành phố Hải Phòng, chị K và anh T lấy nhau có đăng ký kết hôn tại UBND phường A (trước đây là xã L, huyện A), thành phố Hải Phòng vào ngày 11/02/2004. Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2- Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa chị K, anh T vắng mặt, chị K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt còn anh T vắng mặt tại phiên tòa lần 2 không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị K và anh Nguyễn Thanh T.
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của đương sự, chứng cứ do đương sự cung cấp và do Toà án thu thập đã có đủ cơ sở xác định lời khai của chị Nguyễn Thị K về thời gian kết hôn, quá trình chung sống giữa hai bên là đúng sự thật. Mâu thuẫn vợ chồng được thể hiện trong quá trình chung sống hai bên va chạm bất hòa, sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống gia đình. Mâu thuẫn đã được gia đình can thiệp giúp đỡ nhưng không khắc phục được. Quá trình giải quyết vụ án, chị K xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc, mâu thuẫn nghiêm trọng đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T. Anh T1 không có quan điểm về yêu cầu xin ly hôn của chị K, vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án không có lý do.
Xét thấy tình trạng mâu thuẫn giữa chị K và anh T1 đã nghiêm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, sống ly thân, tình cảm vợ chồng không còn. Căn cứ vào các điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho chị Nguyễn Thị K được ly hôn anh Nguyễn Thanh T.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị K và anh Nguyễn Thanh T có 02 con chung Nguyễn Thanh Q, sinh ngày 06/12/2004, Nguyễn Ngọc Như Ý, sinh ngày 01/01/2012. Việc nuôi dưỡng con chung là quyền đồng thời là nghĩa vụ của cha mẹ, chị K đề nghị Tòa án giao con chung Nguyễn Ngọc Như Ý cho chị K nuôi dưỡng sau ly hôn. Về cấp dưỡng nuôi con chung hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Con chung Nguyễn Thanh Q đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết. AnhTuấn không có quan điểm về nuôi con chung cũng như cấp dưỡng nuôi con chung. Căn cứ vào điều kiện nuôi dưỡng con chung, tài liệu xác minh chị K và anh T điều kiện nuôi dưỡng con chung là ngang nhau, nguyện vọng con chung Nguyễn Ngọc Như Ý M ở với chị K, để đảm bảo quyền lợi cho con chung, giao con chung Nguyễn Ngọc Như Ý cho chị Nguyễn Thị K nuôi dưỡng sau ly hôn là phù hợp. Con chung Nguyễn Thanh Q đã trưởng thành Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn: Hội đồng xét xử không giải quyết, sau này các đương sự có tranh chấp Tòa án giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác. Thời hạn nuôi con chung tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị K không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, anh Nguyễn Thanh T không có quan điểm về tài sản chung. Do vậy, Hội đồng xét xử không giải quyết, sau này các đương sự có tranh chấp giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị K phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị K và anh Nguyễn Thanh T có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, các điều 70, 143, 147, khoản 2 Điều 227; Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Dân sự; Các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; căn cứ vào Điều 6, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Quốc hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị K được ly hôn anh Nguyễn Thanh T.
2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị K và anh Nguyễn Thanh T có 02 con chung Nguyễn Thanh Q, sinh ngày 06/12/2004, Nguyễn Ngọc Như Ý, sinh ngày 01/01/2012. Giao con chung Nguyễn Ngọc Như Ý cho chị Nguyễn Thị K nuôi dưỡng sau ly hôn. Thời hạn nuôi con chung tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Con chung Nguyễn Thanh Q đã trưởng thành Hội đồng xét xử không giải quyết.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn: Hội đồng xét xử không giải quyết sau này các đương sự có tranh chấp Tòa án giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
4. Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không giải quyết sau này các đương sự có tranh chấp Tòa án giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.
5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim P chịu 300.000đồng án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước. Được trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí ly hôn chị K đã nộp (biên lai thu tiền số 0008929 ngày 30 tháng 12 năm 2025) tại Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị K đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị K và anh Nguyễn Thanh T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành án tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hải Phòng; - VKSND TP Hải Phòng; - VKSND khu vực 2- Hải Phòng; - Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng; - UBND phường An Phong TP. Hải Phòng (trước đây là UBND xã Lê Thiện, huyện An Dương, Hải Phòng, ĐKKH số 06/2004); - Đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. CÁC TRƯỜNG THẨM NHÂN DÂN Nguyễn Duy Tuân Nguyễn Thị Lợi | TM. ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thu Hương THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Minh Huế |