vanban.org

Bản án 70/2025/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 14/05/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Xử phạt: Bị cáo Bùi Chí T 28 (Hai mươi tám) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2025.

[2]. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo. [3]. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi chí T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Xử phạt: Bị cáo Bùi Chí T 28 (Hai mươi tám) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2025.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIA LÂM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:70/2025/HSST
Ngày 14/5/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM. THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Cồ Khắc Đam Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Chấn

2. Ông Vũ Minh Long

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Cao Đức Lộc, Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2025, tại Phòng xét xử trực tuyến- trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xét xử trực tuyến, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 72/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 4 năm 2025, theo quyết định đưa ra xét xử số 70/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2025 với bị cáo:

Bùi Chí T, sinh ngày 13/8/2006 tại Nam Định; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ tên bố: Không rõ; Họ tên mẹ: Phạm Thị H; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 10/01/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 01 giờ ngày 10/01/2025, tổ công tác Công an xã B - huyện G làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực đường G, thôn B, huyện G, Hà Nội, kiểm tra phát hiện Bùi Chí T đang cầm ở lòng bàn tay trái 01 túi nilông màu trắng, kích thước (6 x 9,5cm) bên trong có 02 viên nén sáng màu có hình mặt cười, 01 túi nilông kích thước (2,5 x2,5cm) màu trắng bên trong có chứa tinh thể màu trắng. T tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an và khai nhận 02 viên nén sáng màu có hình mặt cười là ma túy tổng hợp, tinh thể màu trắng bên trong túi nilông là ma túy Ketamine của T mang đi để bán cho khách nhưng chưa kịp bán thì bị bắt quả tang. Tổ công tác tiến hành lập biên bản thu giữ tang vật, đưa T về trụ sở để làm rõ.

Vật chứng thu giữ của Bùi Chí T gồm: 01 túi nilông màu trắng kích thước (6 x 9,5cm) bên trong có 02 viên nén sáng màu có hình mặt cười, 01 túi nilông kích thước (2,5 x2,5cm) màu trắng bên trong có chứa tinh thể màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro, màu trắng, máy cũ đã qua sử dụng, lắp sim số 0945142338 và 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ đen, BKS 29N1-602.56.

Tại bản Kết luận giám định số 749/KL-KTHS ngày 18/01/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội, kết luận: 01 túi nilông màu trắng bên trong có: 02 viên nén (đều có hình mặt cười) là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 0,766 gam; Tinh thể màu trắng trong 01 túi nilông màu trắng là ma túy loại Ketamine, khối lượng 0,851 gam.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Bùi Chí T khai nhận: Khoảng 23 giờ ngày 09/01/2025, T nhận được tin nhắn từ tài khoản telegram tên "S" có số điện thoại 0385218704 của một người không quen biết hỏi mua 01 chỉ ma túy “Ke” và 02 viên ma túy “Kẹo”, T đồng ý và thỏa thuận giá bán là 1.800.000 đồng thì người mua đồng ý, hẹn giao dịch tại gần quán miến ngan M địa chỉ đường G, thôn B, huyện G, Hà Nội. Sau đó, T vào tài khoản telegram và hỏi mua ma túy với số lượng trên trên mạng xã hội telegram thì có tài khoản là "H1" trao đổi bán số lượng ma túy trên với giá tiền là 1.400.000 đồng, T đồng ý. Người sử dụng tài khoản "H1" hướng dẫn T đến vị trí một cái cây trên đường L, bên trái tòa nhà đang xây dựng, khi T đến nơi thì gọi qua telegram cho người bán và được hướng dẫn đến vị trí để ma túy. T cầm ma túy và để tiền tại vị trí đó. Khoảng 23 giờ 40 phút cùng ngày, T cầm ma túy ở lòng bàn tay trái điều khiển xe máy BKS 29N1-602.56 đi đến địa điểm hẹn bán ma túy. Khi đến khu vực đường G, Thôn B thì bị Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai người chứng kiến, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo Bùi Chí T, do không xác định được nhân thân nên Cơ quan CSĐT không có căn cứ để xử lý.

Đối với đối tượng hỏi mua ma túy, T không biết tên tuổi, địa chỉ người này, liên lạc thông qua ứng dụng mạng xã hội Telegram, sử dụng số điện thoại di động 0385218704. Qua điều tra xác định chủ thuê bao di động 0385218704 là chị Mai Sơn K, sinh năm 1977, địa chỉ Thôn T, xã T, huyện L, Đồng Tháp. Chị K khai không sử dụng số điện thoại trên, chị K hiện đang sinh sống tại Đồng Tháp, không quen biết gì với Bùi Chí T, căn cứ các tài liệu trên Cơ quan CSĐT không có căn cứ để xử lý.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu trắng cũ đã qua sử dụng lắp sim liên lạc số 0945142338. Quá trình điều tra xác định là điện thoại của T sử dụng để trao đổi mua bán ma túy. Cơ quan CSĐT đã thu giữ theo quy định của pháp luật.

Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS 29N1-602.56, số khung 527492, số máy 2996181. Quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Đỗ Văn H2, sinh năm 1987, trú tại thôn C, xã V, huyện V, Hưng Yên. Anh H2 cho T mượn chiếc xe máy trên làm phương tiện đi lại từ tháng 11/2024. Trong thời gian T mượn xe thì BKS đeo theo xe là 89K2-022.08 bị rơi mất. Sau đó, T nhặt được BKS 29N1-602.56 và đã lắp vào chiếc xe. T sử dụng xe làm phương tiện đi mua bán trái phép chất ma tuý thì anh H2 không biết, không liên quan gì. Ngày 26/3/2025, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Hà Nội đã ra Quyết định xử lý tài sản trao trả chiếc xe trên cho anh H2 là đúng theo quy định của pháp luật.

Đối với chiếc BKS 29N1-602.56 qua điều tra xác định là tài sản của ông Thạch Văn T1, sinh năm 1960, trú tại Thôn T, xã T, huyện G, Hà Nội. Ông T1 khai làm mất BKS 29N1-602.56 của xe và đã làm lại BKS mới, ông T1 không có yêu cầu đề nghị gì về chiếc BKS trên, Cơ quan CSĐT đã thu giữ theo quy định của pháp luật.

Đối với 01 phong bì niêm phong kín bên trong có chứa ma túy loại Ketamine khối lượng 0,782 gam ma tuý loại Ketamine (Phòng PC09-CATP Hà Nội trích mẫu 0,069 gam) và có chứa ma túy loại MDMA, khối lượng 0,378 gam ma tuý loại MDMA (Phòng PC09-CATP Hà Nội trích mẫu 0,388 gam ma tuý loại MDMA), xác định là vật chứng của vụ án nên chuyển Tòa án để phục vụ xét xử.

Tại Bản cáo trạng số 70/CT-VKSGL ngày 15 tháng 4 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện G truy tố bị cáo Bùi Chí T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Bùi Chí T khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận đã có hành vi Mua bán trái phép chất ma túy như bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố tại phiên tòa hôm nay và xác nhận hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ và hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo đã kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo với nội dung Cáo trạng truy tố.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Bùi Chí T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Chí T từ 26 tháng tù 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với số lượng ma túy và chiếc BKS 29N1-602.56 thu giữ của bị cáo, xác định không có giá trị sử dụng nên đề nghị HĐXX căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng cho tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro, màu trắng, máy cũ đã qua sử dụng, lắp sim số 0945142338, xác định có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên đề nghị HĐXX căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng cho tịch thu phát mại sung công.

Trong phần Tranh luận bị cáo không có ý kiến gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Khi nói lời sau cùng, bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Chí T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với sơ đồ hiện trường, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ xác định:

Hồi 01 giờ ngày 10/01/2025, tại khu vực đường G, thôn B, huyện G, Hà Nội, bị cáo Bùi Chí T có hành vi mua bán trái phép chất ma túy MDMA có khối lượng là 0,766 gam và ma túy Ketamine có khối lượng là 0,851 gam, mục đích để bán kiếm lời thì bị Cơ quan Công an kiểm tra bắt giữ cùng vật chứng. Hành vi của bị cáo Bùi Chí T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Điều 251 quy định:

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm….

Vì vậy, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi ma tuý là chất độc dược huỷ hoại sức khoẻ con người và gây tác hại xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Bị cáo là người đã thành niên, nhận thức được tác hại của ma túy, nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Hành vi đó của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự công cộng, cần áp dụng hình phạt tù giam tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, để giáo dục cũng như phòng ngừa chung.

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề tự do thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với số lượng ma túy và chiếc BKS 29N1-602.56 thu giữ của bị cáo, xác định không có giá trị sử dụng nên HĐXX căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng cho tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro, màu trắng, máy cũ đã qua sử dụng, lắp sim số 0945142338, xác định có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên HĐXX căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng cho tịch thu, sung công.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 mục I Danh mục án phí, lệ phí tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Khoản 1 mục I Danh mục án phí, lệ phí tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[1]. Xử phạt: Bị cáo Bùi Chí T 28 (Hai mươi tám) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2025.

[2]. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.

[3]. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) Phong bị niêm phong bên ngoài có chữ ký xác nhận niêm phong của Bùi Chí T và Giám định viên Phạm Trần N, đóng dấu niêm phong của Công an xã B, bên trong gồm có; 01 túi nilon chứa ma túy loại Ketamine, khối lượng thu giữ ban đầu là 0,851 gam Ketamine (Phòng PC09-CATP Hà Nội trích mẫu 0,069 gam Ketamine) khối lượng còn lại là 0,782 gam Ketamine; 01 (Một) túi nilon chứa 02 Viên ma túy loại MDMA có khối lượng thu giữ ban đầu là 0,766 gam MDMA (Phòng PC09-CATP Hà Nội trích mẫu 0,388 gam MDM.1) khối lượng còn lại là 0,378 gam MDMA và 01 (Một) Biển kiểm soát 29N1-602.56 đã cũ.

- Tịch thu, sung công: 01(một) Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro thu giữ của Bùi Chí T, được niêm phong có chữ ký của Điều tra viên Dương Quốc H3 (theo biên bản tạm giữ ngày 10/01/2025 ghi là: Điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu trắng, lắp sim...) điện thoại và sim đã cũ không kiểm tra được chất lượng, hiện trạng.

(Biên bản giao nhận vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, thành phố Hà Nội ngày 21 tháng 4 năm 2025).

[4]. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[5]. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ