vanban.org

Bản án 70/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị B. Cho chị Nguyễn Thị B được ly hôn với anh Võ Chế L.

Về nuôi con chung: 1. Chị Nguyễn Thị B được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con chung Võ Ngọc T, sinh ngày 07 tháng 5 năm 2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa chị B và anh L"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị B. Cho chị Nguyễn Thị B được ly hôn với anh Võ Chế L.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 23-9-2025
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lương Bằng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Tấn Dũng.

2. Ông Nguyễn Tuấn Lam.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Thái Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 94/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2025 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 167/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị B, sinh ngày 20 tháng 12 năm 1988; Nơi cư trú: Ấp LB, xã LK, tỉnh Đồng Tháp.

2. Bị đơn: Anh Võ Chế L, sinh ngày 10 tháng 4 năm 1986; Nơi cư trú: Ấp LB, xã LK, tỉnh Đồng Tháp.

(Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 07 tháng 7 năm 2025 và biên bản lấy lời khai ngày 21 tháng 8 năm 2025 của nguyên đơn chị Nguyễn Thị B trình bày: Chị với anh Võ Chế L cưới nhau vào năm 2020 (không nhớ ngày, tháng), trước khi tiến hôn nhân thì chị và anh L có tìm hiểu nhau được khoảng 01 năm thì cưới, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã LKB, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp (nay là Uỷ ban nhân dân xã LK, tỉnh Đồng Tháp). Sau khi cưới thì cả hai sống chung với gia đình chồng. Cuộc sống vợ chồng vui vẻ hạnh phúc đến khi chị sinh bé gái thì phát sinh mâu thuẫn do anh L chỉ thích sinh con trai, anh L thường xuyên nhậu rồi đánh chửi vợ con, khi con khoảng hơn 01 tuổi thì thấy sống không được nên chị ôm con bỏ đi và cả hai đã không còn sống chung từ năm 2024 cho đến nay. Nay tình cảm vợ chồng đã hết nên yêu cầu ly hôn với anh Võ Chế L. Về con chung: Chị B yêu cầu được nuôi cháu Võ Ngọc T, sinh ngày 07 tháng 5 năm 2022 (hiện cháu T đang sống với chị) và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Chị B cho rằng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Chị B cho rằng không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Võ Chế L đã được Toà án triệu tập để hoà giải và xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh từ chối không đến Toà án để tham gia phiên hoà giải và xét xử.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ các Điều 9, 14, 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị B được ly hôn với anh Võ Chế L; Về con chung: Giao con chung Võ Ngọc T, sinh ngày 07 tháng 5 năm 2022 cho chị B tiếp tục nuôi dưỡng, về cấp dưỡng nuôi con, anh L không phải cấp dưỡng nuôi con do chị B không có yêu cầu; Về tài sản: Chị B cho rằng tự thỏa thuận, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn anh L không có văn bản trình bày ý kiến của mình, nên Viện kiểm sát không xem xét giải quyết; Về nợ chung: Chị B cho rằng không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn anh L không có văn bản trình bày ý kiến của mình, nên Viện kiểm sát xem xét giải quyết.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Đây là vụ kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị B có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Võ Chế L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị B và anh Võ Chế L là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn và hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Xét yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị B đối với anh Võ Chế L, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo trình bày của chị B thì cuộc sống của chị và anh L đã bắt đầu phát sinh mâu thuẫn sau khi chị sinh bé gái do anh L chỉ thích sinh con trai, anh L thường xuyên nhậu rồi đánh chửi vợ con, khi con khoảng hơn 01 tuổi thì thấy sống không được nên chị ôm con bỏ đi và cả hai đã không còn sống chung từ năm 2024 cho đến nay. Từ đó, có thể nhận thấy rằng mối quan hệ vợ chồng của chị B và anh L hoàn toàn không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Như vậy, xét thấy yêu cầu ly hôn của chị B là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, nên chấp nhận cho chị Nguyễn Thị B ly hôn với anh Võ Chế L.

Về việc nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị B yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Võ Ngọc T, sinh ngày 07 tháng 5 năm 2022, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi sinh ra cho đến hiên nay cháu T do chị B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, vì vậy để ổn định cuộc sống của cháu, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị B được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T, anh L không phải cấp dưỡng nuôi con do chị B không có yêu cầu và cũng phù hợp với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị B cho rằng tự thỏa thuận, nên không yêu cầu giải quyết, còn anh Võ Chế L không có văn bản trình bày ý kiến của mình, vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập đến giải quyết.

Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị B cho rằng không có, nên không yêu cầu giải quyết, còn anh Võ Chế L không có văn bản trình bày ý kiến của mình, vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập đến giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự, điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc đương sự phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 5, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị B. Cho chị Nguyễn Thị B được ly hôn với anh Võ Chế L.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Chị Nguyễn Thị B được tiếp tục chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con chung Võ Ngọc T, sinh ngày 07 tháng 5 năm 2022.

2.2. Anh Võ Chế L không phải cấp dưỡng nuôi con.

2.3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị B phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) được trừ đi tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án 0000857 ngày 18 tháng 7 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp, chị B không phải nộp thêm.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ