vanban.org

Bản án 70/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lường Thị H được ly hôn anh Quàng Văn L.

Về con chung: Giao cháu Quàng Thị Tường Vy, sinh ngày 01/4/2019 cho chị Lường Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lường thị H và Quàng văn L"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lường Thị H được ly hôn anh Quàng Văn L.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TC
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2025/HNGĐ- ST
Ngày: 29-5-2025
V/v: Ly hôn, nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lò Mai Xiêng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lý Thị Vinh

2. Ông Phạm Ngọc Thiệp

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Phượng- Thư ký Toà án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Bạc Thị Thoản - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 181/2025/TLST - HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2025/QĐXXST- HNGĐ, ngày 13 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lƣờng Thị H, sinh năm 1997.

Nơi ĐKHKTT: Tiểu khu N, thị trấn TC, huyện TC, tỉnh Sơn La.

Chỗ ở hiện tại: Bản Ph, xã H, huyện M, tỉnh Sơn La.

(Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Quàng Văn L, sinh năm 2000.

Địa chỉ: Tiểu khu N, thị trấn TC, huyện TC, tỉnh Sơn La.

( Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Lƣờng Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị Lường Thị H và anh Quàng Văn L kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 22/01/2021 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống hòa thuận được một thời gian có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Chị Lường Thị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị ly hôn với anh Quàng Văn L.

Về con chung: Chị Lường Thị H và anh Quàng Văn L có 01 (một) con chung là cháu Quàng Thị Tường Vy, sinh ngày 01/4/2019.

Hiện tại cháu Quàng Thị Tường Vđang ở với chị Lường Thị H. Chị Lường Thị H có nơi cư trú ổn định. Chị Lường Thị H trồng trọt, chăn nuôi, làm thuê thêm, thu nhập bình quân mỗi tháng từ 8.000.000 đồng đến 9.000.000 đồng. Chị Hằng có đủ điều kiện nuôi dưỡng và chăm sóc con.

Chị Lường Thị H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Quàng Thị Tường Vy.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lường Thị H không yêu cầu anh Quàng Văn L cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Chị Lường Thị H cam đoan không có nợ chung.

Tại bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Quàng Văn L trình bày:

Về hôn nhân: Anh Quàng Văn L và chị Lường Thị H kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn tháng 01/2021 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống hòa thuận được một thời gian ngắn có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài, vợ chồng đã sống ly thân, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Anh Quàng Văn L xác định tình cảm vợ chồng không còn, nhất trí ly hôn chị Lường Thị H.

Về con chung: Anh Quàng Văn L và chị Lường Thị H có 01 (một) con chung là cháu Quàng Thị Tường Vy, sinh ngày 01/4/2019.

Hiện tại cháu Quàng Thị Tường Vđang ở với chị Lường Thị H.

Anh Quàng Văn L nhất trí để chị Lường Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Quàng Thị Tường Vy.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Quàng Văn L không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Anh Quàng Văn L cam đoan không có nợ chung.

Đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ cho Tòa án, không có ý kiến gì về các chứng cứ do các đương sự xuất trình và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người tham gia tố tụng khác.

Chị Lường Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt: Chị Hằng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và ý kiến trong bản tự khai.

Anh Quàng Văn L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt: Anh Long giữ nguyên ý kiến trong bản tự khai.

T i biên bản xác minh ngày 05/5/2025: Tại Tiểu khu N, thị trấn TC, huyện TC, tỉnh Sơn La. Chị Lường Thị H, anh Quàng Văn L có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Quá trình chung sống với nhau có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn không nắm được. Hiện tại chị Lường Thị H, anh Quàng Văn L đã sống ly thân. Chị Lường Thị H và anh Quàng Văn L có 01 (một) con chung là cháu Quàng Thị Tường Vy, sinh ngày 01/4/2019 đang ở với chị Lường Thị H. Tài sản chung, nợ chung: Không nắm được.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện TC phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Kể từ khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định pháp luật.

Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lường Thị H được ly hôn anh Quàng Văn L.

Về con chung: Giao cháu Quàng Thị Tường Vy, sinh ngày 01/4/2019 cho chị Lường Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Quàng Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con chung (chị Lường Thị H không yêu cầu).

Về tài sản chung: Không có.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Chị Lường Thị H, anh Quàng Văn L cam đoan không có nợ chung.

Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho nguyên đơn chị Lường Thị H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Lường Thị H yêu cầu giải quyết ly hôn với bị đơn anh Quàng Văn L có địa chỉ tại Tiểu khu N, thị trấn TC, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của nguyên đơn chị Lường Thị H, bị đơn anh Quàng Văn L: Nguyên đơn chị Lường Thị H, bị đơn anh Quàng Văn L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lường Thị H và anh Quàng Văn L kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 22/01/2021 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện, sau khi kết hôn được một thời gian có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được. Hiện nay chị Lường Thị H và anh Quàng Văn L đã sống ly thân, không ai quan tâm tới cuộc sống của ai. Chị Hằng cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị được ly hôn anh Quàng Văn L. Anh Quàng Văn L nhất trí ly hôn.

Trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ, bản tự khai, biên bản xác minh tại chính quyền địa phương.

Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Hằng và anh Long lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, xử cho chị Lường Thị H được ly hôn anh Quàng Văn L. Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị Lường Thị H và anh Quàng Văn L có 01 (một) con chung là cháu Quàng Thị Tường Vy, sinh ngày 01/4/2019. Chị Lường Thị H và anh Quàng Văn L đều có ý kiến giao cháu Quàng Thị Tường Vcho chị Lường Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.

Chị Hằng, anh Long có nơi cư trú rõ ràng, đều có thu nhập. Chị Lường Thị H trồng trọt, chăn nuôi, làm thuê thêm, thu nhập bình quân mỗi tháng từ 8.000.000 đồng đến 9.000.000 đồng. Chị Hằng là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Quàng Thị Tường Vtừ năm 2022 cho đến nay.

Từ các căn cứ nêu trên xét thấy: Để đảm bảo quyền, lợi ích của con, cần giao cháu Quàng Thị Tường Vy, sinh ngày 01/4/2019 cho chị Lường Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Quàng Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con chung (chị Lường Thị H không yêu cầu cấp dưỡng).

Căn cứ Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung: Không có.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Chị Lường Thị H, anh Quàng Văn L cam đoan không có nợ chung.

Về án phí: Chị Lường Thị H có đơn xin miễn án phí dân sự sơ thẩm, xét thấy chị Lường Thị H là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho nguyên đơn chị Lường Thị H.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 1 Điều 228; Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lường Thị H được ly hôn anh Quàng Văn L.

2. Về con chung: Giao cháu Quàng Thị Tường Vy, sinh ngày 01/4/2019 cho chị Lường Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Quàng Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con chung (chị Lường Thị H không yêu cầu cấp dưỡng).

4. Về tài sản chung: Không có.

5. Về tài sản riêng: Không có.

6. Về nợ chung: Chị Lường Thị H và anh Quàng Văn L cam đoan không có nợ chung.

7. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho nguyên đơn chị Lường Thị H.

8. Về quyền kháng cáo: Chị Lường Thị H, anh Quàng Văn L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết./.

Cỡ chữ