vanban.org

Bản án 70/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 đối với ông Trương Minh D, bà Trần Thị Kim L đối với nợ gốc.

Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 đối với ông Trương Minh D, bà Trần Thị Kim L đối với nợ lãi. Buộc ông Trương Minh D, bà Trần Thị Kim L có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 khoản nợ gốc là 501.000 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP K1- Trương Minh D"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 đối với ông Trương Minh D, bà Trần Thị Kim L đối với nợ gốc.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Tố tụng hành chính; Luật Tư pháp người
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 – CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2025/DS-ST
Ngày 18 tháng 9 năm 2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Lam

Hội thẩm nhân dân: Bà Lâm Thị Nguyệt Hồ

Ông Lê Tuấn Kiệt

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồng Thị Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Như – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2025, tại Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cà Mau mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 368/2025/TLST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng tín dụng;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2025/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1

Địa chỉ: Số D, P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang (nay là Số D, Phạm Hồng T, phường R, tỉnh An Giang).

Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M – Chủ tịch HĐQT

Đại diện theo ủy quyền:

- Ông Tô Ngã Vang C - Chuyên viên chính Xử lý nợ khu vực Phòng Xử lý nợ

- Bà Trương Thị Mỹ N – Chuyên viên chính Xử lý nợ khu vực Phòng Xử lý nợ

- Ông Trần Quốc K – Chuyên viên xử lý nợ T1 và Tài chính vi mô Phòng xử Xử lý nợ

- Bà Huỳnh Phương T2 – Chuyên viên xử lý nợ T1 và Tài chính vi mô Phòng xử Xử lý nợ

- Ông Trần Hải Đ – Chuyên viên xử lý nợ Khu vực Phòng xử Xử lý nợ

- Ông Phạm Quốc T3 – Chuyên viên xử lý nợ Khu vực Phòng xử Xử lý nợ

- Bà Trương Mỹ A - Chuyên viên xử lý nợ Khu vực Phòng xử Xử lý nợ.

2. Bị đơn: Ông Trương Minh D, sinh năm 1959

Địa chỉ: Số A, đường V, Khóm H, Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là Số A, đường V, Khóm A, phường B, tỉnh Cà Mau).

- Bà Trần Thị Kim L, sinh năm 1961

Hộ khẩu thường trú: Số A, đường V, Khóm H, Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (nay là Số A, đường V, Khóm A, phường B, tỉnh Cà Mau)

Nơi ở hiện nay: Không rõ.

(Các đương sự vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 và ông Trương Minh D, bà Trần Thị Kim L đã thỏa thuận ký kết Hợp đồng tín dụng ngày 19/12/2008, chi tiết như sau: Số tiền vay là 17.000.000 đồng; thời hạn vay là 36 tháng; lãi suất vay là 13,2%/ năm, lãi suất nợ quá hạn 150% lãi suất cho vay ngay trước thời điểm quá hạn. Lãi trả hàng tháng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông D, bà L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 29/10/2011, đã chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 29/10/2011.

Đến ngày 18/9/2025 ông D, bà L còn nợ tổng số tiền là 2.466.235 đồng (trong đó, nợ gốc là 501.000 đồng, nợ lãi trọng hạn là 7.576 đồng, nợ lãi quá hạn là 1.957.659 đồng).

Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 yêu cầu buộc ông D và bà L trả số tiền nợ vay tạm tính đến ngày 18/9/2025 là 2.449.739 đồng (trong đó, nợ gốc là 501.000 đồng, nợ lãi trọng hạn là 7.576 đồng, nợ lãi quá hạn là 1.941.163 đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 20/9/2025 theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến ngày thanh toán dứt nợ.

Bị đơn ông Trương Minh D trình bày: Ông D có vay tiền như Ngân hàng trình bày nhưng ông đã trả xong từ năm 2011, hiện không còn nợ Ngân hàng. Nếu ông D còn nợ tại sao hơn 10 năm nay không đòi mà đến hôm nay mới đòi. Ông D yêu cầu áp dụng thời hiệu trong vụ án này.

Bị đơn bà Trần Thị Kim L vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên không có lời trình bày.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật:

Tòa án thụ lý giải quyết vụ án này là đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã tuân thủ trình tự tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tại phiên tòa hôm nay thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự.

Nội dung vụ án: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 đối với yêu cầu về nợ gốc. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 đối với yêu cầu về nợ lãi.

Buộc ông Trương Minh D, bà Trần Thị Kim L có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 khoản nợ gốc là 501.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.

Về án phí, nguyên đơn và bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án; ý kiến của đương sự; sau khi thảo luận, nghị án; Hội đồng xét xử nhận thấy:

Thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 (Ngân hàng) khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trương Minh D, bà Trần Thị Kim L trả số nợ vay theo hợp đồng đã ký kết. Bị đơn có nơi cư trú tại phường B, tỉnh Cà Mau. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cà Mau.

Xét xử vắng mặt đương sự: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bị đơn ông Trương Minh D có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn bà Trần Thị Kim L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Cho nên, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét hợp đồng tín dụng:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 và ông Trương Minh D, bà Trần Thị Kim L đã thỏa thuận ký kết Hợp đồng tín dụng ngày 19/12/2008, chi tiết như sau: Số tiền vay là 17.000.000 đồng; thời hạn vay là 36 tháng; lãi suất vay là 13,2%/ năm, lãi suất nợ quá hạn 150% lãi suất cho vay ngay trước thời điểm quá hạn. Lãi trả hàng tháng.

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 107 Luật các tổ chức tín dụng, việc cấp tín dụng dưới hình thức cho vay của Ngân hàng là phù hợp quy định pháp luật.

Ngân hàng xác định do ông D, bà L vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên từ ngày 29/10/2011 đã chuyển sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 18/9/2025 ông D, bà L còn nợ tổng số tiền là 2.466.235 đồng (trong đó, nợ gốc là 501.000 đồng, nợ lãi trọng hạn là 7.576 đồng, nợ lãi quá hạn là 1.957.659 đồng). Ông D xác định đã trả xong nợ cho Ngân hàng từ năm 2011. Tuy nhiên, ông D không có tài liệu, chứng cứ chứng minh đã trả xong nợ cho Ngân hàng. Cho nên, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận lời trình bày của ông D là đã trả xong nợ cho Ngân hàng.

Ông D, bà L vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 29/10/2011, nhưng thời gian từ năm 2011 – tháng 5/2025, Ngân hàng không có yêu cầu ông D, bà L trả nợ. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông D có yêu cầu áp dụng thời hiệu.

Theo Điều 429 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm”. Căn cứ quy định nêu trên thì thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng đã hết. Tuy nhiên, theo quy định khoản 2 Điều 155 của Bộ luật Dân sự thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện trong trường hợp "yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác".

Do đó, Ngân hàng yêu cầu ông D, bà L trả nợ gốc số tiền 501.000 đồng là có căn cứ chấp nhận, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng đối với tiền lãi.

Đối với tiền lãi trong giai đoạn thi hành án, được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị đơn ông Trương Minh D, bà Trần Thị Kim L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch đối với phần yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch đối với phần yêu cầu không được chấp nhận.

Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Cà Mau là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 39; Điều 184; Điều 185; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án

- Khoản 2 Điều 100; Điều 102; Điều 103; điểm a khoản 3 Điều 107 Luật các tổ chức tín dụng;

- Khoản 2 Điều 149; khoản 2 Điều 155; Điều 429 Bộ luật Dân sự;

- Khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 đối với ông Trương Minh D, bà Trần Thị Kim L đối với nợ gốc.

Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 đối với ông Trương Minh D, bà Trần Thị Kim L đối với nợ lãi.

2. Buộc ông Trương Minh D, bà Trần Thị Kim L có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 khoản nợ gốc là 501.000 đồng.

3. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm ông Trương Minh D, bà Trần Thị Kim L phải chịu 300.000 đồng.

Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 phải chịu án phí số tiền 300.000 đồng. Ngân hàng đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai số 0000526 ngày 30 tháng 5 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu được chuyển thu án phí.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ