vanban.org

Bản án 70/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Có áp dụng án lệ Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V.

1. Buộc bà Võ Thị D phải thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền tính đến ngày 05/9/2025 là 1.120.773.809 (Một tỷ một trăm hai mươi triệu bảy trăm bảy mươi ba nghìn tám trăm lẻ chín) đồng cụ thể như sau: Nợ khoản vay LN2111104678225: gốc 642.380.000 đồng, lãi 394.426.440 đồng; Nợ khoản… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP V tranh chấp hợp đồng tín dụng với Võ Thị D"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2-KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2025/DS-ST
Ngày: 23/9/2025
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN D

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Công

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Tấn Thịnh

Bà Nguyễn Thị Thu Thảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Phương - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2- Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2- Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Nhật - Kiểm sát viên.

Vào ngày 23 tháng 9 năm 2025, tại Tòa án nhân dân Khu vực 2- Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 125/2025/TLST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2025/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 9 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 116/2025/QĐST-DS ngày 18 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần V.

Địa chỉ trụ sở: Số S Láng Hạ, phường Đ, Thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí U, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh Y, chức vụ: Cán bộ Xử lý nợ. Theo Văn bản ủy quyền số 1923/2025/UQN-LCC ngày 28/6/2025. Địa chỉ: Số QĐ, phường NT, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Bà Võ Thị D, sinh năm: 1990. Nơi cư trú: Thôn BH, xã NCR, tỉnh Khánh Hòa. Chỗ ở hiện nay: 35/5A đường 59, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 26/02/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V trình bày: Ngân hàng thương mại cổ phần V chi nhánh Sài Gòn (sau đây viết tắt là VPBank) với bà Võ Thị D đã ký kết các Hợp đồng tín dụng sau:

1. Hợp đồng cho vay số LN2111104678225 ngày 19/11/2021. Số tiền cho vay: 743.000.000 đồng; Mục đích: Vay mua xe ô tô nhãn hiệu FORD RANGER mới 100%; Thời hạn: 96 tháng; Lãi suất: 9%/năm. Lãi suất cho vay trong hạn được cố định từ ngày giải ngân, hết thời hạn cố định, lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh, ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày đầu tiên sau thời gian cố định, ngày điều chỉnh lãi suất tiếp theo là ngày đầu quý gần nhất tính từ ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên, sau đó lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/1 lần vào các ngày đầu quý tiếp theo (Ngày đầu quý là các ngày 01/01, 01/4, 01/7, 01/10 hàng năm). Trường hợp ngày điều chỉnh lãi suất rơi vào các ngày chủ nhật, ngày lễ theo quy định của VPBank thì ngày điều chỉnh lãi suất là ngày đầu tiên liền sau ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ đó. Mức lãi suất được điều chỉnh được xác định bằng mức lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 96 tháng được bên Ngân hàng công bố (được niêm yết tại website: www.vpbank.com.vn) có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 4,6%/năm.

Tài sản đảm bảo để thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu FORD, số loại: RANGER, số máy: YN2QPMD14512, số khung: RL2UMFF60MDR14512, màu sơn: Ghi, số chỗ ngồi: 5, biển số đăng ký: 79C-186.91 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 79004454 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Khánh Hòa cấp ngày 18/11/2021 đứng tên bà Võ Thị D.

2. Hợp đồng cho vay kênh VPBank Online số LD2218901144 ngày 08/7/2022. Số tiền cho vay: 46.000.000 đồng; Mục đích: Phụ vụ nhu cầu đời sống; Thời hạn: từ ngày 08/7/2022 đến ngày 15/6/2025; Lãi suất: 24%/năm.

Bà D đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ vào ngày 16/12/2023. VPBank đã nhiều lần liên hệ mời làm việc nhưng bà D không đến Ngân hàng làm việc. Ngày 28/12/2023, VPBank đã gửi thông báo thu hồi nợ trước hạn và khởi kiện cho bà D, bà D đã nhận được bưu gửi bao gồm các nội dung nêu trên vào ngày 05/01/2024.

Tính đến ngày 05/9/2025, bà D nợ VPBank số tiền 1.120.773.809 đồng cụ thể như sau: Nợ khoản vay LN2111104678225: gốc 642.380.000 đồng, lãi 394.426.440 đồng; Nợ khoản vay LD2218901144: gốc 41.419.276 đồng, lãi 42.548.093 đồng.

Do đó, để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho VPBank, VPBank yêu cầu bà D phải trả cho VPBank số tiền nợ tính đến ngày 05/9/2025 là 1.120.773.809 đồng và tiếp tục tính lãi từ ngày 06/9/2025 cho đến khi bà D trả xong nợ vay cho Ngân hàng theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng. Trường hợp bà D không trả được nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp. Trường hợp sau khi phát mãi tài sản đảm bảo mà bà D vẫn chưa trả hết nợ thì bà D vẫn phải tiếp tục trả hết số nợ còn lại.

* Tại bản tự khai ngày 24/6/2025, bị đơn bà Võ Thị D trình bày: Bà cùng Ngân hàng thương mại cổ phần V-chi nhánh Sài Gòn đã ký kết hợp đồng tín dụng số LN211104678225 ngày 19/11/2021, số tiền vay 743.000.000 đồng; hợp đồng số LD2218901144 ngày 08/7/2022, số tiền vay 46.000.000 đồng. Bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, tổng dư nợ đến ngày 26/02/2025 là 1.114.257.596 đồng, trong đó nợ gốc 683.799.276 đồng, nợ lãi 430.458.320 đồng. Bà đồng ý trả nợ cho Ngân hàng trong vòng 01 tháng (31/7/2025) sau ngày đó nếu bà không trả được ngân hàng có quyền phát mãi tài sản thế chấp là xe mô tô biển số 79C-186.91.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2- Khánh Hòa phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của người tiến hành tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án liên quan đến giao dịch dân sự mà bị đơn cư trú tại xã NCR, tỉnh Khánh Hòa nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 2- Khánh Hòa theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thanh toán nợ vay. Căn cứ vào nội dung vụ án, căn cứ vào các Điều 463 và 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V và bị đơn bà Võ Thị D có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Xét thấy yêu cầu của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để tiến hành xét xử vắng mặt tất cả đương sự.

Về nội dung vụ án:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử xác định: Ngân hàng thương mại cổ phần V chi nhánh Sài Gòn với bà Võ Thị D đã ký kết 02 Hợp đồng tín dụng: Hợp đồng cho vay số LN2111104678225 ngày 19/11/2021; số tiền cho vay: 743.000.000 đồng; Mục đích: Vay mua xe ô tô nhãn hiệu FORD RANGER mới 100%; Thời hạn: 96 tháng; Lãi suất: 9%/năm, lãi suất cho vay trong hạn được cố định 12 tháng kể từ ngày 19/11/2021, ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày đầu tiên sau thời gian cố định, sau đó lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/1 lần vào các ngày đầu quý tiếp theo; thời hạn trả nợ: định kỳ một tháng một lần vào ngày 15, kỳ trả nợ đầu tiên ngày 15/12/2021, số tiền trả nợ gốc mỗi kỳ là 7.740.000 đồng, kỳ cuối cùng trả dứt nợ vay. Hợp đồng cho vay kênh VPBank Online số LD2218901144 ngày 08/7/2022, số tiền cho vay: 46.000.000 đồng; Mục đích: Phục vụ nhu cầu đời sống và mua bảo hiểm sinh mạng cho người vay tín dụng; Thời hạn: từ ngày 08/7/2022 đến ngày 15/6/2025; Lãi suất: 24%/năm, lãi suất cho vay trong hạn được cố định đến ngày 01/01/2023, lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/1 lần vào các ngày đầu quý tiếp theo; thời hạn trả nợ: định kỳ một tháng một lần vào ngày 15, kỳ trả nợ đầu tiên ngày 15/8/2022, tổng cộng gồm 36 kỳ.

Quá trình thực hiện hợp đồng vay, bà D đã vi phạm cam kết trả nợ vào ngày 16/12/2023. Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu bà D phải trả nợ nhưng bà D vẫn không thực hiện. Tính đến ngày 16/8/2025, bà D còn nợ VPBank số tiền 1.120.773.809 đồng gốc và lãi.

Xét thấy: Việc ký kết 02 Hợp đồng cho vay số LN2111104678225 ngày 19/11/2021 và Hợp đồng cho vay kênh VPBank Online số LD2218901144 ngày 08/7/2022 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần V và bà Võ Thị D là sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự nhưng bà D không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng như hợp đồng đã ký kết là vi phạm điểm c khoản 8 Điều 2 của Hợp đồng cho vay số LN2111104678225 ngày 19/11/2021. Do đó, Ngân hàng thương mại cổ phần V khởi kiện thu hồi nợ gốc và lãi là có cơ sở phù hợp với Điều 100 và Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Án lệ số 08/2016/AL. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V, buộc bà Võ Thị D phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền tính đến ngày 05/9/2025 là 1.120.773.809 đồng. Và tiếp tục tính tiền lãi, chi phí phát sinh từ ngày 06/9/2025 cho đến khi bà D hoàn thành xong nghĩa vụ trả nợ gốc cho Ngân hàng theo các Hợp đồng tín dụng đã ký kết.

Để đảm bảo nghĩa vụ thực hiện hợp đồng vay, bà D đã thế chấp xe ô tô nhãn hiệu FORD, số loại: RANGER, số máy: YN2QPMD14512, số khung: RL2UMFF60MDR14512, màu sơn: Ghi, số chỗ ngồi: 5, biển số đăng ký: 79C-186.91 được Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Khánh Hòa cấp Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 79004454 ngày 18/11/2021 đứng tên bà Võ Thị D theo Hợp đồng thế chấp số LN211114678225 ngày 19/11/2021 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần V và bà Võ Thị D. Xét thấy: Hợp đồng thế chấp trên thể hiện sự tự nguyện của các đương sự, được lập thành văn bản phù hợp với Điều 319 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Tài sản thế chấp trên nhằm đảm bảo việc trả nợ của bà D cho Ngân hàng. Do đó, nếu bà D không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu FORD, số loại: RANGER, số máy: YN2QPMD14512, số khung: RL2UMFF60MDR14512, màu sơn: Ghi, số chỗ ngồi: 5, biển số đăng ký: 79C-186.91 để thu hồi nợ theo quy định tại khoản 1 Điều 299 và Điều 303 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về án phí: Bà D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” số tiền 45.623.214 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các khoản 1 Điều 299, Điều 303, Điều 319, Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 100 và Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; Án lệ số 08/2016/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần V.

1.1. Buộc bà Võ Thị D phải thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền tính đến ngày 05/9/2025 là 1.120.773.809 (Một tỷ một trăm hai mươi triệu bảy trăm bảy mươi ba nghìn tám trăm lẻ chín) đồng cụ thể như sau: Nợ khoản vay LN2111104678225: gốc 642.380.000 đồng, lãi 394.426.440 đồng; Nợ khoản vay LD2218901144: gốc 41.419.276 đồng, lãi 42.548.093 đồng.

Ngân hàng thương mại cổ phần V được tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn và phí kể từ ngày 06/9/2025 cho đến khi bà Võ Thị D thanh toán xong toàn bộ các khoản nợ theo lãi suất tại các Hợp đồng tín dụng đã ký kết.

1.2. Trường hợp bà Võ Thị D không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần V, thì Ngân hàng thương mại cổ phần V có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản là xe ô tô nhãn hiệu FORD, số loại: RANGER, số máy: YN2QPMD14512, số khung: RL2UMFF60MDR14512, màu sơn: Ghi, số chỗ ngồi: 5, biển số đăng ký: 79C-186.91 được Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Khánh Hòa cấp Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 79004454 ngày 18/11/2021 đứng tên bà Võ Thị D theo Hợp đồng thế chấp số LN211114678225 ngày 19/11/2021 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần V và bà Võ Thị D.

1.3. Ngân hàng thương mại cổ phần V có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Võ Thị D 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 79004454 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Khánh Hòa ngày 18/11/2021 đứng tên bà Võ Thị D khi bà Võ Thị D thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần V.

2. Về án phí:

2.1. Hoàn lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần V số tiền 22.800.000 (Hai mươi hai triệu tám trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001906 ngày 15/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2- Khánh Hòa).

2.2. Bà Võ Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” 45.623.214 (Bốn mươi lăm triệu sáu trăm hai mươi ba nghìn hai trăm mười bốn) đồng.

3. Quy định: Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Ngân hàng thương mại cổ phần V, bà Võ Thị D có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ