- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vừ A D, tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép - phạm tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vừ A D phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2024/HS-ST Ngày: 31-5-2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Nhuận
Bà Đỗ Thị Luyến
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Vũ Thanh Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại phòng xét xử số 02, Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 67/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST-HS ngày 19/4/2024, Thông báo về việc thay đổi thời gian mở lại phiên tòa số 85/TB-TA ngày 27/5/2024 đối với bị cáo:
Vừ A D, sinh ngày 10/10/1992, tại xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Nơi cư trú: Bản Na Láy, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vừ Sáy T (đã chết) và bà Chá Thị S, sinh năm 1969; bị cáo chung sống như vợ chồng với Ly Thị S1, sinh năm 1990 và có 04 người con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án: Không, tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị kết án và chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo đang bị tạm giam từ ngày 20/11/2023 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Điện Biên. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Thu H, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Ly Thị S1, sinh ngày 07/9/1990. Địa chỉ: Bản N, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng cuối tháng 10/2023, Vừ A D quen biết 01 người đàn ông tên là Sùng A T1, nhà ở bản P, cụm S, huyện M, tỉnh Phông-Sa-Lỳ, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Khoảng 10 giờ ngày 19/11/2023, T1 gọi điện qua ứng dụng Messenger cho D, đặt vấn đề thuê D tổ chức cho 02 người nhập cảnh trái phép từ Lào vào Việt Nam cụ thể đón tại khu vực suối H gần cọc dấu biên giới 111.2 Lào – Việt Nam về nhà D và gọi xe taxi cho 02 người về thành phố Đ, tiền công 500.000 đồng/01 người. Dế đi xe máy từ nhà đi theo đường phía sau Đồn Biên phòng cửa khẩu Quốc tế T2 trang đi được khoảng 03km, D dừng lại để xe máy ở bên đường rồi tiếp tục đi bộ theo đường mòn, đi được khoảng 200m thì đến cọc dấu biên giới 111.2 Lào – Việt Nam, gặp Sùng A T1 đang đứng cùng 02 người Việt Nam gồm 01 nam giới tên là Hoàng Đức C và 01 nữ giới tên là Nguyễn Thị H1. T1 hẹn Dế khi nào sang Việt Nam chơi sẽ trả tiền công, D dẫn C và H1 đi bộ khoảng 01 giờ thì đến địa điểm để xe máy. Dế điều khiển xe máy chở T1 và H1 về nhà D ở bản N, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; H1 đưa cho D số điện thoại của xe taxi, D gọi xe taxi đến đón C và H1 tại ngã ba đường Q 279 gần Đ. Hồi 14 giờ 15 phút cùng ngày D điều khiển xe máy chở C và H1 đến điểm hẹn trong lúc đứng chờ xe taxi thì bị cán bộ Bộ đội Biên phòng tỉnh Điện Biên và Cán bộ Công an tỉnh Điện Biên phát hiện đưa về Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Tây Trang để làm rõ.
Tại Bản cáo trạng số: 29/CT-VKS-P1 ngày 16/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên đã truy tố bị cáo Vừ A D để xét xử về tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” theo quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Vừ A D 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 4 điều 348 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động; 01 xe máy nhãn hiệu ESPERO. Tịch thu tiêu hủy: 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 27000661, tên chủ xe Vừ A D. Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vừ A D.
Tại bản luận cứ bào chữa: Người bào chữa không có ý kiến khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng, không có ý kiến tranh luận gì về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, bị cáo tuổi đời còn trẻ nhận thức còn hạn chế và nhất thời phạm tội, bị cáo là lao động chính trong gia đình, phải nuôi các con ăn học nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo khởi điểm mức hình phạt do Đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 4 Điều 348 Bộ luật Hình sự; trả lại ½ giá trị xe máy cho Ly Thị S1 vợ bị cáo và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo nhất trí bản luận cứ bào chữa không bổ sung ý kiến gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ly Thị S1 đề nghị Hội đồng xét xử cho bà S1 được xin lại chiếc xe máy để làm phương tiện đi lại, phục vụ cho sinh hoạt chung của gia đình.
Trong phần tranh luận: Do Đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa đồng nhất quan điểm về tội danh và hình phạt chính, hình phạt bổ sung, án phí nên không có tranh luận gì, đối với việc tịch thu giá trị xe máy Đại diện viện kiểm sát và người bào chữa vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm án, ngoài ra không có ý kiến gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 14 giờ 00 phút ngày 19/11/2023, tổ công tác của Đồn biên phòng cửa khẩu Quốc tế Điện Biên phối hợp với lực lượng của Phòng phòng chống Ma túy và Tội phạm Bộ đội Biên phòng tỉnh Điện Biên, Phòng An ninh điều tra, Phòng Q Công an tỉnh Điện Biên đang làm nhiệm vụ tại khu vực Km26 Quốc lộ B thuộc địa phận bản N, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên phát hiện Vừ A D tổ chức cho 01 người nam giới tên Hoàng Đức C và 01 người nữ giới tên Nguyễn Thị H1 nhập cảnh trái phép từ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào vào Việt Nam để lấy tiền công là 500.000 đồng/01 người, của 01 người đàn ông tên là Sùng A T1 nhà ở bản P, cụm S, huyện M, tỉnh Phông-Sa-Lỳ, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, trong khi chờ đón taxi đến đón C và H1 tại ngã ba đường Q thì bị phát hiện. Hành vi của bị cáo phù hợp với lời khai của Hoàng Đức C và Nguyễn Thị H1, Kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, không có chứng cứ nào chứng minh bị cáo không phạm tội. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép” quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.
. Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh của Nhà nước. Tội phạm mà bị cáo vi phạm là tội phạm nghiêm trọng, vì vậy cần phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu nên không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên, người bào chữa về phần hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về hình phạt bổ sung:
Ngoài hình phạt chính, theo quy định tại khoản 4 Điều 348 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt hoặc cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Nghề nghiệp của bị cáo làm nông nghiệp, không có thu nhập ổn định, kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, không có khả năng thi hành án, do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về hành vi và các Quyết định tố tụng của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc có khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Biện pháp tƣ pháp và việc xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- 01 chiếc điện thoại di động là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Espero do bị cáo Vừ A D là phương tiện phạm tội nên cần phải tịch thu sung ngân sách Nhà nước, theo quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 16; khoản 4 Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình chiếc xe máy là tài sản chung của bị cáo và bà Ly Thị S1 do vậy cả hai cùng có quyền lợi ngang nhau đối với tài sản này, tịch thu ½ giá trị chiếc xe máy, ½ giá trị chiếc xe máy sẽ được trả lại cho bà Ly Thị S1.
- Đối với 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 27000661, tên chủ xe Vừ A D cần tịch thu tiêu hủy.
. Về các vấn đề khác:
Đối với Sùng A T1 người quốc tịch nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, quá trình điều tra đã thực hiện tương trợ tư pháp nhưng đến nay chưa có kết quả. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, nếu có đủ căn cứ thì sẽ xử lý theo quy định của pháp luật do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với Nguyễn Thị H1 và Hoàng Đức C, Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Tây Trang đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi nhập cảnh trái phép là phù hợp Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, nhưng bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại bản đặc biệt khó khăn và tại phiên tòa có ý kiến xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 348 Bộ luật Hình sự.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vừ A D phạm tội “Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép”.
2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Vừ A D 01 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 20/11/2023.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
3.1. Tịch thu sung ngân sách nhà nước:
- 01 (một) chiếc điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu Galaxy A23, số IMEI1: 353220823106429/01; số IMEI2: 353319903106422/01; màu xanh dương; điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng. Trong điện thoại có lắp sim Viettel số: 0961.716.4244.
- ½ giá trị chiếc xe máy nhãn hiệu ESPERO (lốc máy DETECH), loại Win 2 bánh; số loại 130W3; màu sơn: đen; dung tích xi lanh: 127cm3; năm sản xuất: 2022; số khung RPEXCJDPENA857799, số máy: VDEJQ154FMJ-1857799; xe không có biển kiểm soát, xe đã cũ, đã qua sử dụng.
3.2. Trả lại cho bà Ly Thị S1:
- ½ giá trị chiếc xe máy nhãn hiệu ESPERO (lốc máy DETECH), loại Win 2 bánh; số loại 130W3; màu sơn: đen; dung tích xi lanh: 127cm3; năm sản xuất: 2022; số khung RPEXCJDPENA857799, số máy: VDEJQ154FMJ-1857799; xe không có biển kiểm soát, xe đã cũ, đã qua sử dụng.
3.3. Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô, xe gắn máy số 27000661, tên chủ xe: Vừ A Dế, địa chỉ: Bản N, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
(Theo Biên bản bàn giao, nhận vật chứng ngày 17/4/2024 giữa Cơ quan An ninh điều tra, Công an tỉnh Điện Biên và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Vừ A D được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 31/5/2024)./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Vụ Giám đốc kiểm tra I (TANDTC);
- VKSND cấp cao tại Hà Nội;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Điện Biên;
- Cơ quan ANĐT Công an tỉnh Điện Biên;
- Bị cáo;
- Người CQL,NVLQ;
(Đã ký)
- Trại tạm giam Công an tỉnh Điện Biên;
- Cục THADS tỉnh Điện Biên;
- Phòng HC Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên;
- Lưu HSVA, HCTP.
Đỗ Thu Hƣơng
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG
THẨM PHÁN
XÉT XỬ SƠ THẨM
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thu Hƣơng
| Nơi nhận: - Vụ Giám đốc kiểm tra I (TANDTC); - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Trại tạm giam Công an tỉnh Điện Biên; - Cục THADS tỉnh Điện Biên; - Phòng HC Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên; - Lưu HSVA, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đỗ Thu Hƣơng |