vanban.org

Bản án 70/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào các điều 9, 14, 56 của Luật hôn nhân và gia đình;

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Về hôn nhân: Không công nhận bà Phạm Thị N và ông Mai Văn C là vợ chồng.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị N - Mai Văn C"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào các điều 9, 14, 56 của Luật hôn nhân và gia đình;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 21 - 5 - 2024
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sơn Ngọc Trọng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Giang.

Ông Nguyễn Minh Sỹ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quang Nhật là Thư ký tòa án của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân.

Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 40/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2024 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Thị N, sinh năm 1980 (có mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp P, xã C, thành phố P, tỉnh K.

Bị đơn: Ông Mai Văn C, sinh năm 1970 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp G, xã N, huyện P, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 16/02/2024, các văn bản kèm theo và tại phiên tòa nguyên đơn bà Phạm Thị N trình bày:

Về hôn nhân: Năm 1995, bà và ông Mai Văn C kết hôn và chung sống với nhau như vợ chồng nhưng đến nay không có đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống thì bà N và ông C phát sinh nhiều mâu thuẫn trong lối sống, bất đồng quan điểm, cả hai không còn chung sống với nhau từ năm 2022 cho đến nay. Do mâu thuẫn đã trầm trọng, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, nên bà N không thể đoàn tụ gia đình với ông C, nay bà cương quyết ly hôn với ông C và yêu cầu Tòa án xét xử cho bà ly hôn ông Mai Văn C.

Về con chung: Có hai người con chung tên Mai Kim K (giới tính nữ), sinh ngày 01/01/1997 và Mai Minh K (giới tính nam), sinh ngày 29/11/1999, hiện hai người con chung đã trưởng thành, tự lao động nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Mai Văn C đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, đồng thời triệu tập xét xử nhiều lần nhưng ông C vẫn không tham gia tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Vụ án tranh chấp ly hôn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo lãnh thổ, được quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông Mai Văn C đã được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng nhiều lần, nhưng ông C không cung cấp chứng cứ gì, ông C vắng mặt không có lý do. Nay căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông C là có căn cứ.

[2] Về hôn nhân: Năm 1995, bà Phạm Thị N và ông Mai Văn C chung sống với nhau như vợ chồng và không có đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Cuộc sống chung phát sinh nhiều mâu thuẫn, cả hai không còn chung sống với nhau từ năm 2022 mà không thể hàn gắn tình cảm. Bà Phạm Thị N xác định không còn tình cảm dành cho ông C, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và bà N cương quyết ly hôn.

Xét thấy, quan hệ hôn nhân của bà Phạm Thị N và ông Mai Văn C không thể tiếp tục duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được. Hôn nhân giữa bà Phạm Thị N và ông Mai Văn C đã và đang trong tình trạng trầm trọng. Ông C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn không tham gia tố tụng, cho thấy ông C không mong muốn hàn gắn đoàn tụ gia đình. Đối với yêu cầu của bà N, ông C không có ý kiến gì. Do hôn nhân giữa bà N và ông C đã vi phạm quy định về điều kiện kết hôn theo Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình nên bà Phạm Thị N và ông Mai Văn C không được công nhận là vợ chồng.

[3] Về con chung: Có hai người con chung tên Mai Kim K (giới tính nữ), sinh ngày 01/01/1997 và Mai Minh K (giới tính nam), sinh ngày 29/11/1999, hiện hai người con chung đã trưởng thành, tự lao động nuôi sống bản thân, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

[4] Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, nên không đặt ra xem xét.

[5] Về nợ chung: Không có, nên không đặt ra xem xét.

[6] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Phạm Thị N phải chịu theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 147, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng vào các điều 9, 14, 56 của Luật hôn nhân và gia đình;

Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Về hôn nhân: Không công nhận bà Phạm Thị N và ông Mai Văn C là vợ chồng.

2. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Phạm Thị N phải chịu 300.000 đồng. Bà Phạm Thị N đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0003229 ngày 23/02/2024, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, nay chuyển thu.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ