- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Yến Như - Huỳnh Công Thuận"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Yến N được quyền ly hôn với ông Huỳnh Công T.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| __________ Bản án số: 70/2024/HNGĐ-ST. Ngày: 03 - 6 - 2024. V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ái Mỹ.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lâm Kim Mến.
Ông Ngô Văn Cơ.
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Hoàng Bửu – Thư ký viên Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Tài – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 74/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Yến N, sinh năm: 2003 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp L, xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Ông Huỳnh Công T, sinh năm 1993 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp L, xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 29/02/2024, tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị Yến N trình bày: Bà Lê Thị Yến N và ông Huỳnh Công T kết hôn vào năm 2020. Sau khi kết hôn sống bên nhà cha mẹ chồng. Đến năm 2023 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Thời gian chung sống vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên cãi vã do không hợp nhau. Từ năm 2023 bà N về nhà cha mẹ ruột sinh sống cho đến nay. Mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn. Nay bà N yêu cầu Tòa an giải quyết cho bà ly hôn với ông Huỳnh Công T.
Về con chung: Bà Lê Thị Yến N và ông Huỳnh Công T có hai người con chung tên Huỳnh Khắc D, sinh ngày 21/9/2021 và Huỳnh Khắc L, sinh ngày 26/11/2022, con chung hiện nay đang sống với ông T. Khi ly hôn bà N đồng ý giao hai người con chung cho ông T tiếp tục nuôi dưỡng đến trưởng thành. Bà N không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Huỳnh Công T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho ông T theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng ông T không liên lạc với Tòa án, không gửi ý kiến bằng văn bản cho Toà án biết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không đến tham gia phiên toà xét xử sơ thẩm.
Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, xét xử vụ án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bị đơn ông Huỳnh Công T đã được tống đạt các văn bản tố tụng theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự, vụ án được đưa ra xét xử đến lần thứ hai nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
- Về nội Dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 4 điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội; Áp dụng khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; khoản 1, 2 Điều 81, khoản 1, 3 Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Yến N; Về con chung: Giao cho ông Huỳnh Công T được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai người con chung tên Huỳnh Khắc D, sinh ngày 21/9/2021 và Huỳnh Khắc L, sinh ngày 26/11/2022 đến khi đủ 18 tu i. Bà Lê Thị Yến N được quyền thăm nom con chung, không ai được quyền cản trở; Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét; Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, không đặt ra xem xét; Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, không đặt ra xem xét; Về án phí sơ thẩm đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Bị đơn ông Huỳnh Công T đã được tống đạt các văn bản tố tụng theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự, vụ án được đưa ra xét xử đến lần thứ hai nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung:
Bà Lê Thị Yến N và ông Huỳnh Công T kết hôn vào năm 2020. Đến năm 2023 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 52 ngày 12/7/2023. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông T là hôn nhân hợp pháp. Khi thụ lý vụ án, Tòa án thông báo cho ông T về việc thụ lý vụ án theo thông báo số 74/TB-TLVA ngày 11/3/2024, nhưng ông T vẫn không liên hệ đến tòa án, không có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn của bà N. Nay bà N giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông T. Xét thấy, bà N và ông T không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng, nếu tiếp tục kéo dài hôn nhân sẽ không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân giữa bà N và ông T không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Yến N.
Về con chung: Trong thời gian chung sống bà Lê Thị Yến N và ông Huỳnh Công T có hai người con chung tên Huỳnh Khắc D, sinh ngày 21/9/2021 và Huỳnh Khắc L, sinh ngày 26/11/2022. Hiện nay con chung đang sống cùng ông T. Xét thấy, từ khi vợ chồng không sống chung, hai người con chung do ông T nuôi dưỡng, bà N đồng ý giao hai người con chung cho ông T tiếp tục nuôi dưỡng đến trưởng thành. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất căn cứ khoản 1, 2 Điều 81, khoản 1, 3 Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giao cho ông Huỳnh Công T được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai người con chung tên Huỳnh Khắc D và Huỳnh Khắc L cho đến khi hai người con đủ 18 tu i.
Bà Lê Thị Yến N được quyền thăm nom con chung, không ai được quyền cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Về án phí sơ thẩm: Bà Lê Thị Yến N phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000288 ngày 06/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M. Như vậy, bà N đã thực hiện xong.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, của người tham gia tố tụng trong quá trình thụ lý, xét xử vụ án và ý kiến về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Căn cứ khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; khoản 1, 2 Điều 81, khoản 1, 3 Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Yến N được quyền ly hôn với ông Huỳnh Công T.
- Về con chung: Giao cho ông Huỳnh Công T được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai người con chung tên Huỳnh Khắc D, sinh ngày 21/9/2021 và Huỳnh Khắc L sinh ngày 26/11/2022 cho đến khi hai người con chung đủ 18 tu i.
Bà Lê Thị Yến N được quyền thăm nom con chung, không ai được quyền cản trở.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- Về án phí: Bà Lê Thị Yến N phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số số 0000288 ngày 06/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M. Như vậy, bà N đã thực hiện xong.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Mỹ Xuyên; - Các đương sự; - UBND xã N, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; - TAND tỉnh Sóc Trăng; - Chi cục THA dân sự huyện Mỹ Xuyên; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ái Mỹ |