vanban.org

Bản án 70/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1- Tuyên xử: Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Bạch T đối với anh Nguyễn Ngọc M T1 về việc “Tranh chấp ly hôn”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chap ly hon"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 21/6/2024.
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Cảnh.

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Nguyễn Ngọc Nam.

+ Ông Phan Công Minh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Diễm - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tình- Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 87/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 90/2024/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Bạch T, sinh năm: 1984.

Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Nguyễn Ngọc Minh T1, sinh năm: 1986.

Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

(Chị T có đơn xin vắng mặt, anh T1 vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

+ Theo đơn khởi kiện đề ngày 15/01/2024 và lời khai tiếp theo tại tòa chị Phạm Thị Bạch T trình bày: Chị và anh T1 chung sống với nhau vào năm 2012, có đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai ngày 11/11/2012, cả hai đều tự nguyện. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc. Đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn đến tháng 01 năm 2024, thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng do bất đồng quan điểm sống, không lo làm ăn cờ bạc dẫn đến nợ và không quan tâm gì đến gia đình từ đó cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 01/2024 cho đến nay, thời gian ly thân vợ chồng không có bàn bạc đoàn tụ. Nay, chị xác định tình cảm vợ không còn, yêu cầu được ly hôn anh T1.

Về con chung: Có 03 cháu. Nguyễn Đức H, sinh ngày 05/11/2013, Nguyễn Minh Q, sinh ngày 27/12/2019, Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 17/01/2022, hiện chị đang trực tiếp nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi 03 con chung, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Không có.

+ Bị đơn anh Nguyễn Ngọc Minh T1 không đến Tòa làm việc nên không có lời khai.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định, bị đơn chưa thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị T, cho chị T được ly hôn anh T1.

Về con chung: Có 03 cháu. Nguyễn Đức H, sinh ngày 05/11/2013, Nguyễn Minh Q, sinh ngày 27/12/2019, Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 17/01/2022. Hiện chị T đang nuôi dưỡng con tốt. Đề nghị Hội đồng xét xử giao 03 cháu Nguyễn Đức H, Nguyễn Minh Q và Nguyễn Minh Đ cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản chung: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho anh T1 nhưng anh T1 không có ý kiến và vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên xét xử vắng mặt đối với các đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Phạm Thị Bạch T và Nguyễn Ngọc Minh T1. Cùng địa chỉ: Xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Chị T có đơn tranh chấp ly hôn với anh T1 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Thành theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Bạch T và anh Nguyễn Ngọc M T1 kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 11/11/2012 là hôn nhân hợp pháp, phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.

Quá trình chung sống, chị T và anh T1 có những bất đồng về quan điểm sống, anh T1 không lo làm ăn mà cờ bạc dẫn đến nợ và không quan tâm gì đến gia đình, từ đó cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, vợ chồng chị T đã sống ly thân từ tháng 01/2024 cho đến nay, không bàn bạc đoàn tụ, không còn quan tâm gì đến nhau. Chị T xác định, tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được. Nhận thấy, điều kiện để chị T và anh T1 đoàn tụ chung sống với nhau là không có, tình trạng của vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Xét, yêu cầu ly hôn của chị T là có căn cứ nên chấp nhận.

Về con chung: Có 03 cháu. Nguyễn Đức H, sinh ngày 05/11/2013, Nguyễn Minh Q, sinh ngày 27/12/2019, Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 17/01/2022, cháu H đã trên 07 tuổi. Qua tham khảo ý kiến cháu H có nguyện vọng được sống với chị T. Thời gian qua chị T nuôi dưỡng con tốt. Để đảm bảo cuộc sống ổn định cho con chung nên giao 03 cháu Nguyễn Đức H, Nguyễn Minh Q và Nguyễn Minh Đ cho chị Phạm Thị Bạch T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng: Tạm thời anh Nguyễn Ngọc M T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Không có.

Quan điểm đại diện Viện kiểm sát phù hợp chứng cứ đã thu thập, quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử.

Án phí:

Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Chị Phạm Thị Bạch T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 8, Điều 9, Điều 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1- Tuyên xử:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Bạch T đối với anh Nguyễn Ngọc M T1 về việc “Tranh chấp ly hôn”.

Cho chị Phạm Thị Bạch T được ly hôn anh Nguyễn Ngọc Minh T1.

Về con chung: Giao 03 cháu. Nguyễn Đức H, sinh ngày 05/11/2013, Nguyễn Minh Q, sinh ngày 27/12/2019, Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 17/01/2022 cho chị Phạm Thị Bạch T trực tiếp nuôi dưỡng.

Tạm thời anh Nguyễn Ngọc M T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, chị Phạm Thị Bạch T và anh Nguyễn Ngọc Minh T1 vẫn phải có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, anh T1 có quyền đến thăm con không ai được ngăn cản. Khi cần thiết các đương sự được quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Không có.

2- Về án phí: Chị Phạm Thị Bạch T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai số 0015251 ngày 23/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành.

3- Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ