- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tải sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm a, khoản 1, Điều 23 của Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số:70/2023/HSST Ngày: 14-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đoàn và ông Hoàng Văn Đông
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phước - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai, hình thức xét xử trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 103/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 05 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 06 năm 2023 tại các điểm cầu:
1. Điểm cầu Nhà tạm giữ Công an huyện Định Quán gồm có:
Nguyễn Đức K1, sinh năm 1986 tại Đồng Nai (có mặt)
Nơi cư trú: ấp Phú Tân, xã Phú Cường, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp:không; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo:Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Khôn, sinh năm 1964 và bà Trần Thị Tươi, sinh năm 1965; anh chị em ruột 04 người, bị cáo là con thứ 3 trong gia đình; Vợ Đoàn Thị Kim Chi, sinh năm 1989, con 05 người, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền sự: Không.
Tiền án: 02. Tại bản án số 155/2012/HSST ngày 25/12/2012 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xử phạt Nguyễn Đức K1 01 năm 06 tháng tù, về tội “ Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/02/2014. Chưa nộp án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm và cũng chưa được xét miễn giảm án phí.
Tại bản án số 11/2015//HSST ngày 23/01/2015 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xử phạt Nguyễn Đức K1 02 năm tù, về tội “ Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/06/2016. Đã nộp án phí hình sự sơ thẩm nhưng chưa nộp tiền bồi thường về dân sự.
Về nhân thân: Tại Bản án số 22/2009/HSST ngày 09/4/2009 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán, xử phạt Nguyễn Đức K1 08 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/8/2009. Không coi là tiền án vì tài sản thiệt hại dưới 2.000.000 đồng.
Bị bắt ngày 19/11/2022 và đang bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Định Quán cho đến nay.
Nguyễn Hoàng A1, sinh năm 1988 tại Đồng Nai (có mặt)
Nơi cư trú: ấp Phú Tâm, xã Phú Cường, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp:làm rẫy; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Kim Nang, sinh năm 1930 và bà Nguyễn Thị Hoài, sinh năm 1943; anh chị em ruột 07 người, bị cáo là con thứ 7 trong gia đình; Vợ Nguyễn Thị Nhật Lệ, sinh năm 1990, con 02 người, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền sự: Không.
* Tiền án, tiền sự: Không
* Nhân thân:
Năm 2008 bị đưa đi cơ sở giáo dục Huy Khiêm, chấp hành xong ngày 19/11/2008.
Tại Bản án số 49/2014/HSST ngày 22/5/2014 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán, xử phạt Nguyễn Hoàng Anh 03 năm 06 tháng tù về tội “Giao cấu với trẻ em”, chấp hành xong hình phạt ngày 07/7/2016.
Ngày 07/3/2023 bị cáo bị xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.500.000đ về hành vi trộm cắp tài sản theo quyết định xử phạt số 01/QĐ-XPVPHC của Công an huyện Định Quán, chưa nộp tiền phạt.
Bị bắt ngày 19/11/2022 và đang bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Định Quán cho đến nay.
2.Điểm cầu trung tâm: Hội trường B – Tòa án nhân dân huyện Định Quán gồm có:
- Bị hại: (vắng mặt)
1/ Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1972 và anh Nguyễn Văn Lực, sinh năm 1967.
Địa chỉ: Tổ 7, ấp Vĩnh An, xã La Ngà, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
2/ Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1997.
Địa chỉ: Ấp Hòa Thành, xã Ngọc Định, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: (vắng mặt)
1/ Anh Lê Minh T1, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Khu 4, ấp Trường Thuận, xã Sông Thao, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
2/ Anh Trần Việt T2, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Ấp Phú Tâm, xã Phú Cường, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
3/ Anh Trần Vũ T3, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Ấp Phú Tâm, xã Phú Cường, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
4/ Chị Lê Tấn V, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Ấp Bình An, xã Bình Thành, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Đức K1 và Nguyễn Hoàng Anh là bạn bè quen biết nhau.
Do không có tiền để tiêu xài, Nguyễn Đức K1 đã rủ Nguyễn Hoàng A1 đi trộm cắp tài sản. Từ ngày 14/11/2022 đến ngày 16/11/2022, Hoàng Anh và Đức K1 đã đã thực hiện 02 vụ “trộm cắp tài sản” để bán lấy tiền tiêu xài. Cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất:
Vào khoảng 10 giờ ngày 14/11/2022, K1 rủ Hoàng A1 đi trộm cắp tài sản, thì Hoàng Anh đồng ý. Hoàng Anh điều khiển xe mô tô biển số 66K6-8746 chở K1 đi từ xã Thanh Sơn, huyện Định Quán đến khu vực ấp Hòa Thành, xã Ngọc Định, huyện Định Quán tìm kiếm tài sản để trộm. Khi K1 và Hoàng A1 đến trước nhà anh Nguyễn Văn B thì phát hiện phía trước nhà anh B có 01 chiếc lồng chim bằng tre bên trong có 01 con chim chào mào không có người trông coi, nên Hoàng A1 điều khiển xe dừng lại, K1 đi bộ đến nơi đặt lồng chim và nhanh chóng lấy trộm cái lồng và con chim chào mào rồi cùng Hoàng A1 lên xe mô tô rời khỏi hiện trường. Sau đó, Hoàng A1 nhờ Trần Việt T2 bán cái lồng và con chim chào mào cho anh Trần Vũ T3 được 1.600.000 đồng. Hoàng A1 cho T2 100.000 đồng, chia cho K1 500.000 đồng và cả hai đã tiêu xài cá nhân hết.
Tài sản thiệt hại:
- 01 con chim chào mào màu đỏ.
- 01 lồng chim bằng tre
Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản ngày 21/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Định Quán, kết luận: 01 con chim chào mào đỏ giá 300.000 đồng, 01 lồng bằng tre đã qua sử dụng 500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản thiệt hại là 800.000 đồng.
Vụ thứ hai:
Vào khoảng 09 giờ 20 phút ngày 16/11/2022, K1 tiếp tục rủ Hoàng A1 đi trộm cắp tài sản, Hoàng A1 đồng ý. Hoàng A1 điều khiển xe mô tô biển số 66K6-8746 chở K1 đi dọc Quốc lộ 20 theo hướng Thống Nhất – Tân Phú. Khi đến ngã 3 lẻ một (thuộc xã La Ngà), Hoàng A1 điều khiển xe rẽ trái chạy vào khu vực ấp Vĩnh An, xã La Ngà thì nhìn thấy rẫy xoài của hộ chị Nguyễn Thị N không có người trông coi. Hoàng A1 dừng xe, quay xe hướng ra ngoài để canh chừng, còn K1 đi vào trong rẫy, phát hiện 01 xe mô tô biển số 60P7-4527 để bên hông nhà, K1 lấy trộm chiếc xe mô tô rồi đưa xe ra ngoài nơi Hoàng A1 đang đợi, sau đó cả hai nhanh chóng tẩu thoát. Hoàng Anh mang chiếc xe mô tô vừa trộm cắp được đến cầm tại tiệm cầm đồ “Anh Trung” do anh Lê Minh T1 làm chủ với giá 3.500.000 đồng. Hoàng A1 chia cho K1 1.000.000 đồng, cả hai đã tiều xài cá nhân hết.
Tài sản thiệt hại:
- 01 xe mô tô hiệu Sirus, biển số 60P6-4527
Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản ngày 25/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Định Quán, kết luận giá trị tài sản thiệt hại là 7.500.000 đồng .
Theo cáo trạng số 67/CT-VKSĐQ ngày 23/05/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức K1 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Hoàng A1 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1, Điều 173 đối với Hoàng Anh; điểm g, khoản 2, Điều 173 đối với K1; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Đức K1 mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Xử phạt Nguyễn Hoàng Anh từ 12 tháng đến 16 tháng tù.
* Vật chứng: Đã trao trả cho các chủ sở hữu.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tội danh: Trong khoảng thời gian từ ngày 14/11/2022 đến ngày 16/11/2022, trên địa bàn huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Đức K1 và Nguyễn Hoàng A1 đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản là 01 con chim chào mào và một lồng tre, 01 xe mô tô biển số 60P7-4527. Đã gây thiệt hại cho anh Nguyễn Văn B số tiền 800.000 đồng, gây thiệt hại cho chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Văn Lực số tiền 7.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản thiệt hại là 8.300.000 đồng. Trong đó, Nguyễn Đức K1 chịu trách nhiệm hình sự với tổng số tiền 8.300.000 đồng, Nguyễn Hoàng A1 chịu trách nhiệm hình sự với tổng số tiền 7.500.000 đồng.
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ, phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận định giá tài sản. Như vậy đủ cơ sở kết luận hành vi của Hoàng A1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do K1 có 02 tiền án chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên hành vi của K1 đủ yếu tố cấu thành tội “ Trộm cắp tài sản” thuộc tình tiết định khung hình phạt là tái phạm nguy hiểm, quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 173 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát đã viện dẫn và truy tố là đúng người đúng tội, có căn cứ pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thể hiện rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tài sản đã thu hồi trao trả cho chủ sở hữu, sau khi phạm tội thì ngày 19/11/2022 các bị cáo đã ra đầu thú. Ngoài ra các bị cáo là người có trình độ học vấn thấp nên sự hiểu biết về pháp luật còn hạn chế, có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, các bị cáo là lao động chính trong gia đình, đang nuôi con còn nhỏ. Các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Căn cứ quyết định hình phạt: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật B vệ. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo K1 có 02 tiền án về tội trộm cắp tài sản, đã chấp hành án xong nhưng đối với bản án số 155/2012/HSST ngày 25/12/2012 nhưng chưa nộp án phí và cũng chưa được cơ quan có thẩm quyết xem xét miễn giảm án phí, chưa bồi thường về phần dân sự. Đối với bản án số 11/2015/HSST ngày 23/01/2015 bị cáo đã nộp án phí nhưng chưa nộp tiền bồi thường. Như vậy bị cáo chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung đối với 02 bản án như trên nên không đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật hình sự. Do đó lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 173 Bộ luật hình sự. Bên cạnh đó bị cáo là người có nhân thân xấu năm 2009 đã từng bị xét xử về tội trộm cắp tài sản, bị cáo không sửa đổi những thói hư tật xấu, chỉ vì lười lao động nhưng lại mong muốn có tiền tiêu xài nên đã rủ rê người khác phạm tội và thực hành tích cực nên mức án của K1 phải cao hơn Hoàng A1. Riêng Hoàng A1 phạm tội với vai trò là đồng phạm giúp sức chở K1 đi và đứng ngoài canh chừng. Hoàng A1 mặc dù chưa có tiền án tiền sự nhưng nhân thân xấu, năm 2008 bị đưa đi cơ sở giáo dục Huy Khiêm, năm 2014 bị Tòa án xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội giao cấu với trẻ em và đã chấp hành án xong. Hành vi trộm cắp tài sản ngày 14/11/2022 giá trị thiệt hại tài sản là 800.000đ nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp, chính vì vậy mà ngày 07/3/2023 bị cáo bị xử phạm vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp với số tiền phạt là 2.500.000đ nhưng chưa nộp phạt. Do vậy mức án của Hoàng A1 phải thấp hơn K1. Xét thấy, cần phải có mức án đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra. Vì vậy cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo có ý thức chấp hành nghiêm pháp luật của Nhà nước và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên do các bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như trên nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ 01 phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện chính sách pháp luật nhân đạo của Nhà nước.
Về xử lý vật chứng và các vấn đề khác:
- Về xử lý vật chứng:
- 01 xe mô tô biển số 60P7-4527, hiệu Sirius, thuộc quyền sở hữu của vợ chồng bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn Lực nên Cơ quan điều tra đã trao trả cho chủ sỡ hữu là phù hợp.
- 01 lồng chim bằng tre và 01 con chim chào mào, thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn Văn B, Cơ quan điều tra đã trao trả cho chủ sở hữu.
- 01 xe mô tô biển số 66K6-8746 do anh Tạ Văn Thanh, sinh năm 1985, trú tại ấp An Khương, xã Định Yên, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp đứng tên chủ sở hữu. Anh Thanh đã bán cho chị Lê Tấn Vương, sinh năm 1985, cư trú tại ấp Bình An, xã Bình Thành, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp nhưng chưa thực hiện việc sang tên đổi chủ theo quy định. Nguyễn Hoàng Anh mượn xe của chị Vương thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, chị Vương không biết nên Cơ quan điều tra đã trao cho xe cho chị Vương.
Biện pháp tư pháp:
Về trách nhiệm dân sự:
Đối với số tiền 1.600.000 đồng của anh Trần Vũ Trung đã mua con chim chào mào và cái lồng tre, anh Trung yêu cầu các bị cáo phải trả lại số tiền này; gia đình anh Trần Việt Thái đã nộp lại 100.000 đồng, buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường cho anh Trần Vũ Trung số tiền 1.500.000 đồng.
Đối với số tiền 3.500.000 đồng thu lợi bất chính từ hành vi trộm cắp 01 xe mô tô 60P7-4527, anh Lê Minh Trung không yêu cầu bồi thường, nên không xem xét. Tuy nhiên, đây là số tiền thu lợi bất chính nên buộc các bị cáo phải nộp để sung công quỹ Nhà nước.
- Về các vấn đề khác:
Đối với các anh Lê Minh Trung, Trần Vũ Trung, khi anh Lê Minh Trung nhận cầm xe mô tô và anh Trần Vũ Trung mua lồng chim cùng với con chim chào mào của Hoàng A1 và Đức K1, các anh Minh Trung và Vũ Trung không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.
Đối với anh Trần Việt Thái khi Hoàng A1 nhờ đi bán lồng chim và con chim chào mào, anh Thái không biết đây là tài sản mà Hoàng A1 và Đức K1 trộm cắp mà có nên không có cơ sở xử lý.
Đối với hành vi trộm cắp tài sản ngày 14/11/2022 của Nguyễn Hoàng A1, do giá trị tài sản thiệt hại là 800.000 đồng, Hoàng Anh chưa có tiền án, tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, ngày 07/3/2023, Công an huyện Định Quán đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Hoàng A1, về hành vi “Trộm cắp tài sản” là đúng quy định pháp luật.
Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Định Quán, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Xét quan điểm của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 2, Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Điểm a, khoản 1, Điều 23 của Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173 đối với Hoàng Anh; Điểm g, khoản 2, Điều 173 đối với K1; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức K1, Nguyễn Hoàng A1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1.1 Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức K1 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/11/2022.
1.2 Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng A1 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/11/2022.
Áp dụng điều Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
2. Về biện pháp tư pháp:
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Đức K1 và Nguyễn Hoàng A1 phải liên đới bồi thường thiệt hại cho anh Trần Vũ T3 số tiền 1.500.000đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng).
Hoàn trả cho anh Trần Vũ T3 số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng) anh Trần Việt T2 đã nộp tại biên lai thu tiền số 0000725 ngày 30/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Định Quán.
Buộc bị cáo Nguyễn Đức K1 và Nguyễn Hoàng A1 phải liên đới nộp số tiền thu lợi bất chính là 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) để sung công quỹ Nhà nước.
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức K1 và Nguyễn Hoàng A1 mỗi người phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo K1, Hoàng Anh biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại chị N, anh Lực, anh B và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Minh T1, anh T2, anh Vũ T3, chị V vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA - CQCSĐT Công an huyện Định Quán; - CQ THA hình sự Công an huyện Định Quán; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Các bị cáo; Bị hại; Người liên quan; - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nguyễn Thị Thúy Lan |