vanban.org

Bản án 70/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 24/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Cƣờng D và Nguyễn Vĩnh D1 phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Cƣờng D 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/11/2022. Xử phạt bị cáo Nguyễn Vĩnh D1 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/11/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Cường D và đồng phạm phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Cƣờng D và Nguyễn Vĩnh D1 phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
———————
Bản án số: 70/2023/HS-ST
Ngày 24-3-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Đức Lợi.

2. Bà Bùi Thị Thúy Lan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, là Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Tố Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 84/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2023 đối với các bị cáo:

1/ Nguyễn Cƣờng D, sinh năm 1986 tại tỉnh Hà Nam; thƣờng trú: Thôn 2, N, xã B, huyện B, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Văn Đề, sinh năm 1957 và bà Đào Thị D (đã chết); vợ tên Tống Thị N, sinh năm 1988; có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2013; tiền sự: Ngày 02/6/2020, Toà án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp D1 biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 116/2020/QĐ-TA trong thời hạn 21 tháng. Chấp hành xong ngày 13/9/2021; tiền án: Không.

Nhân thân: Bản án hình sự số 231/2014/HSST ngày 07/11/2014, Toà án nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/4/2016, đóng án phí ngày 11/8/2016.

Bị tạm giữ, tạm giam ngày 08/11/2022, có mặt tại phiên tòa.

2/ Nguyễn Vĩnh D1, sinh năm 1981 tại tỉnh Nghệ An; thƣờng trú: Xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ học vấn: Lớp 4/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Vĩnh K (đã chết) và bà Phan Thị T (không rõ năm sinh); vợ tên Trần Thị V, sinh năm 1982; có 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2013; có 03 em ruột, lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 1998; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam ngày 08/11/2022, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Lê Thị X, sinh năm 1958; thƣờng trú: số 899/11, khu phố N, phƣờng B, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1992; thƣờng trú: Tổ 10, khóm 3, phƣờng C, thành phố C, tỉnh Kiên Giang. Vắng mặt.

2/ Bà Nguyễn Thị Lệ T1, sinh năm 1970; thƣờng trú: 162/12 H, Phƣờng 15, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

3/ Ông Phạm Công S, sinh năm 1992; thƣờng trú: số 402/9/29, tổ 5, khu phố 3, phƣờng T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.

4/ Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1980; thƣờng trú: Số 5, tổ 6, khu phố T, phƣờng P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Nguyễn Vĩnh D1 là nhân viên bảo vệ cho chung cƣ Samsora, khu phố Q, phƣờng Bình Thắng, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng với nhiệm vụ đảm bảo an ninh trật tự, còn Nguyễn Cƣờng D là lái xe, có quen biết với K (chƣa rõ nhân thân) và Quách Văn C trƣớc đây có sinh sống tại chung cƣ Samsora. D thƣờng xuyên đến chung cƣ nên biết cách thức quản lý xe mô tô ra vào.

Khoảng tháng 05/2022, D đến chung cƣ Samsora chơi và mƣợn K 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Wave (không rõ biển số) để đi công chuyện. Sau đó, D đem xe về lại tầng hầm chung cƣ Samsora gửi trả lại cho K nhƣng vẫn giữ thẻ giữ xe. Đến tháng 09/2022, D không có việc làm nên đến chung cƣ Samsora chơi với C, D nói với C không có xe đi lại thì C có giao cho D 01 xe mô tô hiệu Wave, màu xanh, biển số 60F1-453.83 để D sử dụng. D sử dụng đƣợc khoảng 01 tháng thì đem chiếc xe này về gửi lại tầng hầm chung cƣ Samsora, D vẫn giữ lại chìa khóa và thẻ gửi xe trên mà không đƣa cho C. Đến đầu tháng 10/2022, D biết K và C đã bị Công an bắt giữ và để lại xe mô tô tại tầng hầm gửi xe của chung cƣ Samsora.

Ngày 28/10/2022, D đến chung cƣ Samsora để tìm xe mô tô của K nhƣng không tìm thấy do D không nhớ biển số xe nên D đi ra hành lang sảnh C của chung cƣ để hút thuốc. Lúc này, Nguyễn Vĩnh D1 đến xin thuốc của D hút và ngồi nói chuyện với nhau. D nói với D1 có xe mô tô của bạn để trong chung cƣ nhƣng đã bị mất thẻ xe giờ muốn lấy ra để đem xe mô bán và nhờ D1 tìm cho mấy thẻ xe để lấy xe ra, nếu lấy xe ra đƣợc thì D sẽ trả công cho D1. Sau khi về, D nhớ lại chìa khóa và thẻ gửi xe của C vẫn còn để trên xe tải nên D lấy và cất giữ. Đến đầu giờ chiều ngày 04/11/2022, D đem theo chìa khóa, thẻ gửi xe của Chung đến sảnh C chung cƣ Samsora gặp D1. Tại đây, D nói với D1 “đã tìm thấy đƣợc chìa khóa, thẻ gửi xe của bạn D, nhƣng xe để hơi lâu, sợ ra cổng bảo vệ gây khó khăn, có gì anh đứng ngay ở chỗ cô thu tiền giữ xe, nếu có gì anh đỡ lời hộ em” và đƣa cho D1 200.000đ. Sau đó, D điều khiển xe mô tô hiệu Wave, màu xanh, biển số 60F1-453.83 đến cổng soát vé ra vào. Lúc này, chị Lê Thị X là nhân viên thu vé gửi xe kiểm tra và thông báo cho D số tiền phải trả là 285.000đ. D trả tiền và điều khiển xe mô tô này đến chợ T, thuộc khu phố T, phƣờng P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và gọi điện thoại cho một đối tƣợng Hiếu (chƣa rõ nhân thân) tìm ngƣời đến mua xe với giá 3.000.000đ.

Khoảng 17 giờ ngày 05/11/2022, D sử D1 điện thoại di động hiệu Itel S16 pro màu xanh đen gắn sim số 0899119356 gọi cho D1 sim số 0392889040 (điện thoại di động hiệu Masstel màu đen) và nói trong bãi xe còn mấy chiếc xe của mấy ông anh đã bị bắt mà không có thẻ xe, D nhờ D1 tạo điều kiện giúp D lấy số xe này ra khỏi bãi để đem đi bán và cho tiền D1. Bản thân D1 biết không phải xe của D nhƣng D1 vẫn đồng ý.

Đến khoảng 08 giờ ngày 06/11/2022, D gọi điện thoại cho D1 hỏi D1 có lấy đƣợc thẻ xe chƣa để lên lấy 01 chiếc xe ra thì D1 kêu D đến đi. Sau đó, D1 lợi D1 lúc chuyển thẻ xe từ cổng ra qua cổng vào, D1 đã lén lút lấy 01 thẻ trắng giấu vào trong túi áo (Do quản lý có giao nhiệm vụ cho D1 hỗ trợ việc chuyển thẻ từ xe cổng ra qua xe cổng vào). Đến chiều cùng ngày, D đón xe ôm đến sảnh C Chung cƣ Samsora gặp D1. Tại đây, D1 đƣa cho D 01 thẻ xe mà D1 đã lén lút lấy trƣớc đó khi đem thẻ trắng từ cổng ra lên cổng vào, D đƣa cho D1 số tiền công là 300.000đ và hứa bữa khác cho thêm tiền. Sau khi đƣa thẻ cho D thì D1 không đi cùng D xuống hầm gửi xe mà bỏ mặc cho D muốn lấy chiếc xe nào cũng đƣợc. Khi có đƣợc thẻ xe, D cầm thẻ xe xuống tầng hầm tìm xe mô tô của Khôi nhƣng không tìm thấy mà thấy xe mô tô hiệu Sirius màu trắng nâu, biển số 54U4-4805 của anh Nguyễn Hoàng Q cƣ trú tại căn hộ A14-12 Chung cƣ Samsora vẫn để chìa khoá trên xe. D điều khiển xe mô tô hiệu Sirius màu trắng nâu, biển số 54U4-4805 ra cổng kiểm soát vé ra thì đƣa thẻ cho bảo vệ cổng là bà Lê Thị X. Bà X thấy màn hình hiện lên dòng chữ xe không còn trong bãi. Lúc này bà X ấn vào nút màu đỏ trên máy quét thẻ xem có phải là xe đã đăng ký hay không thì màn hình hiện lên hình ảnh chiếc xe và số tiền gửi xe. Do bà Xây mới xuống làm nên không rõ thao tác nên bà X kêu D trả tiền gửi xe số tiền là 10.000đ rồi bà X ấn nút “Enter” trên máy cho thanh chắn mở lên, D tiếp tục điều khiển xe đến chợ Tân Mai, thuộc khu phố T, phƣờng P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai gọi điện thoại cho H (không rõ nhân thân) tìm ngƣời đến mua và bán xe với số tiền là 2.500.000đ. Sau đó, D mua 01 bộ đoản bẻ khoá gồm 02 đầu đoản và 01 tay cầm hình chữ L, bằng kim loại để tiếp tục thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản tại hầm gửi xe của Chung cƣ Samsora. Đến tối cùng ngày, khi đƣợc lực lƣợng bảo vệ của chung cƣ thông báo mất xe thì D1 biết D đã chiếm đoạt xe mô tô của anh Nguyễn Hoàng Quân nhƣ trên.

Chiều ngày 07/11/2022, D1 sử D1 điện thoại di động hiệu VSMART màu trắng gắn sim số 0827445011 gọi cho D nhƣng D không nghe máy. Đến chiều tối cùng ngày, D gọi điện thoại lại cho D1 qua số điện thoại 0827445011 thì D1 hỏi “Còn 300.000 đồng nữa sao không đƣa lên nốt cho anh” thì D nói “Anh cứ chuẩn bị cho em 01 cái thẻ xe, từ giờ đến mai em sẽ lên lấy xe và đƣa tiền cho anh”, thì D1 đồng ý. Tối ngày 07/11/2022, sau khi điện thoại cho D1 thì D đem điện thoại di động hiệu Itel S16 pro màu xanh đen gắn sim số 0899119356 của mình đến tiệm cầm đồ TH59 địa chỉ số 5, tổ 6, khu phố T, phƣờng P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai do anh Nguyễn Thanh H làm chủ cầm số tiền 1.000.000đ. Sau đó, D tháo sim 0899119356 gắn vào điện thoại di động hiệu Samsung J4+ màu đen để tiếp tục liên lạc với D1. Đến trƣa ngày 08/11/2022, D đem điện thoại di động hiệu Samsung J4+ màu đen đến tiệm cầm đồ TH59 cầm số tiền 500.000đ. Đến khoảng 12 giờ ngày 08/11/2022, D mang theo 01 bộ đoản bẻ khoá đến chung cƣ Samsora gặp D1 để lấy thẻ xe.

Đối với D1 cũng bằng thủ đoạn tƣơng tự, D1 lợi D1 lúc chuyển thẻ xe từ cổng ra qua cổng vào, D1 đã lén lút lấy 01 thẻ trắng giấu vào trong túi áo. Khi D và D1 đang nói chuyện và D1 chuẩn bị đƣa thẻ xe cho D thì bị Công an phƣờng B, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng đƣa về trụ sở làm việc. Tại cơ quan Công an D và D1 đã đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội. Đồng thời, D1 đã giao nộp 01 thẻ xe cất trong túi áo để chuẩn bị đƣa cho D nhƣng chƣa kịp đƣa thì bị phát hiện.

Tại kết luận định giá tài sản số 161 ngày 16/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự thành phố Dĩ An, kết luận: 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh bạc đen, biển số: 60F1 - 453.83 (số khung: RLHHC121XDY321573, số máy: HC12E-5321717) có trị giá 5.500.000đ.

Tại kết luận định giá tài sản số 162 ngày 16/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự thành phố Dĩ An, kết luận: 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha sirius, màu trắng nâu, biển số: 54U4 - 4805 (số khung: 203575-Y, số máy: 203575-C64) có trị giá 7.500.000đ.

Về vật chứng thu giữ: 02 đầu đoản dẹp nhọn bằng kim loại và 01 tay cầm hình chữ L bằng kim loại; 01 thẻ xe trắng do Nguyễn Vĩnh D1 giao nộp; 01 điện thoại di động hiệu Masstel màu đen gắn sim số 0392889040 và 01 điện thoại di động hiệu Vsmart màu trắng gắn sim số 0827445011 thu giữ của Nguyễn Vĩnh D1; 01 điện thoại di động hiệu Itel S16 pro màu xanh đen không có sim và điện thoại di động hiệu Samsung J4+ màu đen gắn sim số 0899119356;

01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh bạc đen, biển số: 60F1 - 453.83 (số khung: RLHHC121XDY321573, số máy: HC12E-5321717), Nguyễn Cƣờng D khai xe trên của C đƣa cho sử D1. Qua làm việc, Quách Văn C không quen biết Nguyễn Cƣờng D và không đƣa cho D chiếc xe mô tô nào để sử D1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã tiến hành lấy lời khai chủ sở hữu, xe trên đƣợc bán qua nhiều ngƣời nên chƣa rõ ngƣời mua cuối cùng là ai. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An tiếp tục xác minh, làm rõ.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Hoàng Q là chủ sở hữu 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha sirius, màu trắng nâu, biển số: 54U4 - 4805 (số khung: 203575-Y, số máy: 203575-C64) yêu cầu bồi thƣờng số tiền 10.000.000đ (Mƣời triệu đồng). Bà Lê Thị X – nhân viên rà soát vé đã bồi thƣờng cho anh Q. Anh Q không yêu cầu bồi thƣờng gì khác.

Bà Lê Thị X đƣợc Công ty giao nhiệm vụ và phải tự khắc phục bồi thƣờng nếu nhƣ để mất mát, hƣ hỏng tài sản. Bà X yêu cầu Nguyễn Cƣờng D, Nguyễn Vĩnh D1 liên đới bồi thƣờng số tiền 7.500.000đ theo Kết luận định giá tài sản.

Anh Nguyễn Thanh H – Chủ tiệm cầm đồ TH59 yêu cầu Nguyễn Cƣờng D bồi thƣờng số tiền 1.580.000đ do D cầm cố 02 điện thoại di động và bị Cơ quan điều tra thu hồi.

Tại Cáo trạng số 78/CT-VKS – DA ngày 10 tháng 02 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố Nguyễn Cƣờng D và Nguyễn Vĩnh D1 về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp D1 khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Cƣờng D từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Đề nghị áp D1 điểm i, s khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Vĩnh D1 từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Cƣờng D và Nguyễn Vĩnh D1 liên đới bồi thƣờng cho bà Lê Thị Xây số tiền 7.5000.000đ; buộc bị cáo Nguyễn Cƣờng D bồi thƣờng cho ông Nguyễn Thanh H số tiền 1.580.000đ.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 đầu đoản dẹp nhọn bằng kim loại; 01 tay cầm hình chữ L bằng kim loại; sim số 0392889040; sim số 0827445011 và sim số 0899119356.

Tịch thu sung Ngân sách Nhà nƣớc điện thoại di động hiệu Masstel màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Vsmart màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu Itel S16 pro màu xanh đen và điện thoại di động hiệu Samsung J4+ màu đen.

Tại phiên tòa, các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, trong phần nói lời sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng, các bị cáo và ngƣời tham gia tố tụng không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa, lời khai của bị hại, những ngƣời tham gia tố tụng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định: Nguyễn Cƣờng D và Nguyễn Vĩnh D1 có hành vi dùng thủ đoạn gian dối, đƣa ra thông tin sai sự thật, đƣa thẻ xe không phải của mình để lừa dối bà Lê Thị X là nhân viên soát vé của Chung cƣ Samsora để chiếm đoạt xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu trắng, biển số 54U4-4805 của anh Nguyễn Hoàng Q. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng số 78/CT-VKS – DA ngày 10 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng, nhƣng đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của bị hại đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Về ý thức chủ quan, các bị cáo nhận thức rõ hành vi dùng thủ đoạn gian dối để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị hại là vi phạm pháp luật, nhƣng vì tham lam tƣ lợi các bị cáo đã cố tình thực hiện. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ xem xét vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo.

Trong vụ án có đồng phạm nhƣng là đồng phạm giản đơn, không có phân công vai trò cụ thể nên không coi là tội phạm có tổ chức. Bị cáo Nguyễn Cƣờng D là ngƣời trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội; bị cáo Nguyễn Vĩnh D1 tham gia với vai trò là đồng phạm giúp sức.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đƣợc xem xét khi quyết định hình phạt: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; bị cáo Nguyễn Vĩnh D1 phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo đầu thú. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Vĩnh D1 là ngƣời có nhân thân tốt, chƣa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Nguyễn Cƣờng D đã từng bị xét xử, hiện có 01 tiền sự chƣa đƣợc xóa.

Trách nhiệm dân sự: Xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Yamaha sirius, màu trắng nâu, biển số: 54U4 - 4805 (số khung: 203575-Y, số máy: 203575-C64) là tài sản của anh Nguyễn Hoàng Q cƣ dân của Chung cƣ Samsora bị mất, anh Quân đã đƣợc bà Lê Thị X bồi thƣờng số tiền 10.000.000đ, hiện không còn yêu cầu gì khác. Bà Lê Thị X xác định việc bà kiểm tra soát vé để mất xe là trách nhiệm của bà, do đó bà yêu cầu các bị cáo có trách nhiệm bồi thƣờng số tiền theo kết quả định giá là 7.500.000đ. Tại phiên tòa, các bị cáo đồng ý bồi thƣờng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Anh Nguyễn Thanh H yêu cầu bị cáo Nguyễn Cƣờng D có trách nhiệm bồi thƣờng số tiền 1.580.000đ là tiền bị cáo cầm cố 02 điện thoại di động đã sử D1 vào việc phạm tội. Xét yêu cầu của anh H là phù hợp nên chấp nhận.

Đối với xe mô tô Honda Wave Alpha, màu xanh bạc đen, biển số: 60F1 - 453.83 (số khung: RLHHC121XDY321573, số máy: HC12E-5321717) do ông Phạm Công S đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký mô tô xe máy, ông Sang xác định đã bán xe cho 01 ngƣời không xác định đƣợc nhân thân và không còn quyền lợi gì liên quan. Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Cƣờng D khai nhận chiếc xe trên của anh Quách Văn C đƣa cho bị cáo sử D1. Tuy nhiên, anh Quách Văn C xác định không sở hữu xe mô tô nào biển số 60F1 - 453.83 và không quen biết Nguyễn Cƣờng D. Đồng thời xe mô tô trên gửi tại hầm của chung cƣ Samsora theo ngày nên không xác định đƣợc ai là ngƣời đăng ký gửi xe, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Đối với H là ngƣời mua xe mô tô của Nguyễn Cƣờng D ở khu vực chợ T, thuộc khu phố T, phƣờng P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai hiện chƣa rõ nhân thân, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Xử lý vật chứng: Xét 02 đầu đoản dẹp nhọn bằng kim loại; 01 tay cầm hình chữ L bằng kim loại; sim số 0392889040; sim số 0827445011 và sim số 0899119356 liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Xét điện thoại di động hiệu Masstel màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Vsmart màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu Itel S16 pro màu xanh đen và điện thoại di động hiệu Samsung J4+ màu đen, các bị cáo sử D1 vào việc phạm tội, cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nƣớc.

Về hình phạt chính: Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử quyết định áp D1 hình phạt tù có thời hạn cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và có tác D1 đấu tranh phòng ngừa chung. Mức hình phạt, xử lý vật chứng nhƣ Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.

Hình phạt bổ sung: Xét việc áp dụng hình phạt tù đã đủ sức răn đe, giáo dục đối với các bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Án phí: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Cƣờng D và Nguyễn Vĩnh D1 phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

- Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Cƣờng D 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/11/2022.

- Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Vĩnh D1 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/11/2022.

2. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 468, 584, 587, 589 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 19/9/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

- Buộc các bị cáo Nguyễn Cƣờng D và Nguyễn Vĩnh D1 có nghĩa vụ liên đới bồi thƣờng cho bà Lê Thị Xây số tiền 7.500.000 (bảy triệu năm trăm nghìn) đồng.

- Buộc bị cáo Nguyễn Cƣờng D bồi thƣờng cho anh Nguyễn Thanh Hƣơng số tiền 1.580.000 (một triệu năm trăm tám mƣơi nghìn) đồng.

Kể từ ngày ngƣời đƣợc thi hành án có yêu cầu thi hành án, nếu ngƣời phải thi hành án chậm trả số tiền trên thì hàng tháng ngƣời phải thi hành án còn phải trả cho ngƣời đƣợc thi hành án khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tƣơng ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 02 đầu đoản dẹp nhọn bằng kim loại; 01 tay cầm hình chữ L bằng kim loại; sim số 0392889040; sim số 0827445011 và sim số 0899119356;

- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nƣớc điện thoại di động hiệu Masstel màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Vsmart màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu Itel S16 pro màu xanh đen và điện thoại di động hiệu Samsung J4+ màu đen.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/02/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng).

4. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử D1 án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Nguyễn Cƣờng D và Nguyễn Vĩnh D1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và liên đới nộp 375.000 (ba trăm bảy mƣơi lăm nghìn) đồng án phí dân sự.

Bị cáo Nguyễn Cƣờng D phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự.

Bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc kể từ ngày bản án đƣợc niêm yết theo quy định.

Bản án này đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ