- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị Tuyết N - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Trần Thị Tuyết N phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN N DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 70/2023/HS-ST | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Ngày: 20/4/2023 |
N DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN N DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Chí L
Các Hội thẩm N dân:
1. Bà Trần Thị L
2. Bà Chung Kim S- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Ư– Thư ký Tòa án N dân thành phố Rạch Giá.
- Đại diện Viện kiểm sát N dân thành phố Rạch Giá tham gia phiên tòa: Ông Trần Chí Th – Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 4 năm 2023. Tại phòng xử án của Tòa án N dân thành phố Rạch Giá, xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 50/2023/TLST-HS ngày 27/3/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2023/HSST-QĐ ngày 05 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Thị Tuyết N, sinh năm 1988 tại thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang; Nơi cư trú: Tổ 17, khu phố Phi Kinh, phường Vĩnh Hiệp, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Thành (đã chết) và bà Dương Kim Phụng, sinh năm 1968; có chồng tên Nguyễn Văn Bé; có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2014.
- Tiền án:
+ Ngày 03/5/2018, bị Tòa án N dân thành phố Rạch Giá xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng về tội Trộm cắp tài sản, theo bản án số 56/2018/HSST, ngày 03/5/2018, khi đang chấp hành án tiếp tục phạm tội bị tạm giữ trong vụ án khác từ ngày 02/7/2018, chưa được xóa án tích.
+ Ngày 20/11/2018, bị Tòa án N dân thành phố Rạch Giá xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Cướp giật tài sản, 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt 06 tháng tù đối với bản án số 56/2018/HSST, ngày 03/5/2018, tổng hợp hình phạt phải chấp hành là 04 năm tù, đến ngày 02/10/2021 chấp hành xong hình phạt, chưa được xóa án tích.
- Tiền sự: Chưa.
Ngày 15/12/2022 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, ngày 19/01/2023 bị khởi tố, bắt bị can để tạm giam theo Lệnh số 08, ngày 19/01/2023 để điều tra, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
(Bị cáo có mặt tại điểm cầu nhà tạm giữ Công an thành phố Rạch Giá)
Bị hại: Ông Lê Minh T, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Số 203 đường Ngô Quyền, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang (Có đơn xin xử vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Danh N, sinh năm 1990 (Có đơn xin xử vắng mặt).
Địa chỉ: Số 203 đường Ngô Quyền, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Thị Tuyết N có hai tiền án về các tội cướp tài sản và trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích, do nghiện ma túy nhưng không có nghề nghiệp ổn định nên N nảy sinh ý định tìm ai có sơ hở trong quản lý tài sản thì trộm cắp đem bán lấy tiền mua ma túy để sử dụng, khoảng 0 giờ 30 phút, ngày 15/12/2022 N đi bộ một mình dọc theo tuyến đường Ngô Quyền, đến khoảng 01 giờ cùng ngày thì N đi đến trước nhà số 203 Ngô Quyền, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá có hàng rào lưới sắt có thể nhìn vào trong, lúc này N phát hiện có than củi đã bọc sẵn của anh Lê Minh T, sinh năm 1988, để trong hàng rào không có người trông coi, nên N quan sát xung quanh không có người nên trèo qua hàng rào đi thẳng lại chỗ để than củi trộm cắp 02 (hai) bọc than củi, mỗi bọc có trọng lượng 10kg, đem ra để ngoài hàng rào, sau đó N tiếp tục đi vào lấy trộm 01 (một) bọc than củi có trọng lượng 10kg, khi đang lấy trộm thì anh T phát hiện qua camera trên điện thoại nên đi ra giữ N lại và trình báo Công an phường Vĩnh Bảo mời N về trụ sở làm việc và N thừa nhận hành vi phạm tội.
Ngày 19/01/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Trần Thị Tuyết N để điều tra.
* Vật chứng thu giữ:
- 03 (ba) bọc than củi, mỗi bọc có trọng lượng 10kg, tổng cộng 03 (ba) bọc than củi là 30 kg, với nhiều kích cỡ lớn nhỏ khác nhau.
* Tại Kết luận định giá tài sản số 200/KL-HĐĐGTS, ngày 30/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận:
- 03 (ba) bọc than củi mỗi bọc trọng lượng là 10kg, thời điểm định giá ngày 15/12/2022, có giá trị là 13.500 đồng/kg x 30kg = 405.000 đồng.
* Xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá đã trả lại tài sản cho bị hại là ông Lê Minh T theo quy định.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Trần Thị Tuyết N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu và xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm có cơ hội làm ăn lương thiện.
- Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Trần Thị Tuyết N phạm tội “trộm cắp tài sản”
Về hình phạt:
- Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự để tuyên phạt bị cáo Trần Thị Tuyết N Nhã từ 6 tháng đến 9 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Rạch Giá Điều tra viên, Viện kiểm sát N dân thành phố Rạch Giá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét thấy lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nội dung cáo trạng, lời khai tại cơ quan Điều tra, lời trình bày của người bị hại những tang vật thu được. Từ đó khẳng định: Bị cáo Trần Thị Tuyết N là người có tiền án về tội trộm cắp tài tài sản chưa được xóa án tích nhưng để có tiền tiêu xài cá N, khoảng 01 giờ ngày 15/12/2022, tại nhà số 203, đường Ngô Quyền, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, Trần Thị Tuyết N đã lén lút trộm cắp của ông Lê Minh T 03 (ba) bọc than củi, mỗi bọc có trọng lượng là 10kg, qua định giá tài sản có giá trị là 405.000 đồng (bốn trăm lẻ năm nghìn đồng).
Từ những căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Thị Tuyết N phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo thực hiện tội phạm có ý thức và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã lợi dụng lúc chủ sở hữu mất cảnh giác để lén lút lấy trộm tài sản nhằm thỏa mãn lòng tham và nhu cầu tiêu xài cá N mà không muốn bỏ công sức lao động để làm ra. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác. Đồng thời bị cáo là người có N thân xấu, nhiều lần bị kết án về tội trộm cắp tài sản. Do đó, cần thiết phải xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất và mức độ của bị cáo gây ra nhằm giáo dục cải tạo bị cáo, có ý thức tuân thủ pháp luật, biết tôn trọng và bảo vệ tài sản của người khác, đồng thời giáo dục bị cáo trở thành người dân lương thiện, có ích cho xã hội cũng nhằm để răn đe phòng ngừa giáo dục chung là cần thiết.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt được qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình.
Về tình tiết tăng nặng: Không có
Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá đã trả lại tài sản cho bị hại là ông Lê Minh T đúng theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Buộc bị cáo Trần Thị Tuyết N phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) là phù hợp với Điều 98, 99 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố: bị cáo Trần Thị Tuyết N phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Tuyết N 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính kể từ ngày bị cáo bị tạm giam là ngày 07/02/2023.
- Về án phí: Áp dụng Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Thị Tuyết N phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).
Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 20/4/2023. Riêng bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận : - Tòa án tỉnh; - Bị cáo; ĐS; - VKS thành phố Rạch Giá - Công an thành phố Rạch Giá - Nhà tạm giữ; - Chi cục Thi hành án; - Lưu. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa BÙI CHÍ L |