- Tranh chấp gì? án hình sự — "đinh văn thìn - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung bị cáo Đinh Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2023/HS-ST Ngày 12-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN N, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
+ Tại điểm cầu trung tâm: Hội trường xét xử Tòa án nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Cường.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Mão
Bà Lê Bích Thủy.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai - Thư ký Toà án nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Trần Thành Đạt - Kiểm sát viên.
+ Tại điểm cầu thành phần: Hội trường xét xử Trại tạm giam Công an Hải Phòng, có: Bị cáo Đinh Văn T, cán bộ công an của cơ sở tạm giữ và cán bộ Tòa án.
Ngày 12 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Đinh Văn T, sinh ngày 28 tháng 4 năm 1976 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số 35/39/278 đường Đ, phường V, quận N, Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn O và bà Nguyễn Thị H; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 24/3/2023 đến ngày 27/3/2023 chuyển tạm giam; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 12 giờ 30 phút ngày 24/3/2023, Công an quận N kiểm tra hành chính đối với Đinh Văn T tại khu vực trước cửa nhà số 504 đường Lê Thánh Tông, phường Vạn Mỹ, quận N, thành phố Hải Phòng. Thu giữ trong lòng bàn tay trái của T 01 gói nilon kích thước 1,5x1,5 cm bên trong chứa cục bột màu trắng.
Theo kết luận giám định số 279/KLGĐ ngày 27/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của T gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,18 gam, là loại Heroin.
Quá trình điều tra, Đinh Văn T khai nhận: Do nghiện ma túy nên khoảng 12 giờ 00 phút ngày 24/3/2023, T đi bộ một mình đến khu vực đường tàu Bình Hải, N, Hải Phòng để mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây Tình gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 200.000 đồng được 01 gói ma túy kích thước 1,5x1,5 cm. T cầm ở bàn tay trái rồi tìm nơi sử dụng. Khi đi đến trước cửa nhà số số 504 đường Lê Thánh Tông, phường Vạn Mỹ, quận N, thành phố Hải Phòng thì bị Công an quận N bắt cùng tang vật đưa về trụ sở giải quyết.
Tại Cáo trạng số 72/CT-VKSNQ ngày 15 tháng 5 năm 2023, Viện Kiểm sát nhân dân quận N, thành phố Hải Phòng truy tố Đinh Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận N giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đinh Văn T về tội danh, điều luật áp dụng như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt: Bị cáo Đinh Văn T từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Đinh Văn T. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong chứa chất ma túy còn lại sau giám định. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo Đinh Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như bản cáo trạng truy tố và nhất trí với bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận N. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xử mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, biên bản thu giữ tang vật và kết luận giám định thể hiện: Vào hồi 12 giờ 30 phút ngày 24/3/2023, tại khu vực trước cửa số 504 Lê Thánh Tông, Vạn Mỹ, N, Hải Phòng Công an quận N bắt quả tang Đinh Văn T có hành vi cất giấu ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của Đinh Văn T đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết định khung hình phạt: Số ma túy thu giữ trên người Đinh Văn T qua giám định có khối lượng 0,18 gam là loại Heroin. Vì vậy bị cáo bị xét xử theo khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo Đinh Văn T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về việc cất giữ chất ma túy, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần xét xử nghiêm nhằm mục đích giáo dục và phòng ngừa chung.
Về nhân thân: Bị cáo Đinh Văn T không có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt chính: Bị cáo có một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tuy nhiên bị cáo là đối tượng nghiện ma túy. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo cách ly khỏi xã hội một thời gian, để bị cáo có điều kiện cai nghiện, cải tạo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền. Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiến đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại đã thu giữ sau giám định.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Đinh Văn T chưa xác định được tên tuổi, lai lịch, địa chỉ nên khi nào làm rõ xử lý sau.
Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Đinh Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đinh Văn T được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Đinh Văn T 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/3/2023.
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung bị cáo Đinh Văn T.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm số 279MT/PC09 bên trong chứa chất ma túy sau giám định (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18 tháng 5 năm 2023 giữa Công an quận N và Chi cục Thi hành án dân sự quận N).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc: Bị cáo Đinh Văn T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Đinh Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND quận N; - Công an quận N; - Chi cục Thi hành án dân sự quận N; - VKSND thành phố Hải Phòng; - Trại tạm giam thành phố Hải Phòng; - PV 06 Công an thành phố Hải Phòng; - Cơ quan THA hình sự Công an quận N; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - TAND thành phố Hải Phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Cường |