vanban.org

Bản án 70/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 07/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội ―Trộm cắp tài sản‖. Xử phạt: Nguyễn Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/12/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Tuấn trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 70/2023/HS-ST
Ngày: 07/6/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Ngọc Triệu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Dương Tấn Đấu

2. Ông Nguyễn Phước Lộc

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Chung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Yến Nhi - Kiểm sát viên.

Trong ngày 07 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2023/HSST ngày 25 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2023/QĐXXST–HS ngày 24/5/2023 đối với bị cáo:

* Họ và tên: Nguyễn Văn T (tên gọi khác: TB), sinh ngày 15/8/1988. Nơi sinh: Phú Quốc, Kiên Giang

Nơi ĐKTT: khu phố A, phường DĐ, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

Chỗ ở: như trên

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa (học vấn): 03/12; Con ông Nguyễn Văn T và bà Lâm Thị B; Vợ Đặng Thị Thùy L; Con 01 người, sinh năm 2010.

Tiền án: Ngày 10/9/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc xét xử về tội: Trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. tuyên phạt 12 (mười hai) tháng tù (theo Bản án số 88/2021/HS-ST); ngày 22/4/2022, chấp hành xong, chưa được xóa án tích,

Tiền sự: Chưa.

Bị cáo bị tam giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2022 đến nay.

* Bị hại: Chị Đoàn Thị H, sinh năm 1986; Chỗ ở: khu phố 10, phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

(bị cáo có mặt; bị hại chị H có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 05 giờ, ngày 28/12/2022, Nguyễn Văn T đi bộ từ khu phố 1, phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang về nhà của T tại khu phố 4, phường Dương Đông. Khi đến trước khách sạn THE EMFIRE trên đường Lê Thị Hồng Gấm, thuộc Tổ 13, khu phố 1, phường Dương Đông. Tuần nhìn thấy 01 (một) chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ – đen, mang biển kiểm soát 62T1-062.78 của chị Đoàn Thị H đang đậu phía trước khách sạn THE EMFIRE, trên xe vẫn còn cắm chìa khóa, nên T nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô trên để làm phương tiện đi lại. Sau khi quan sát xung quanh không có ai trông coi, T lén lút đi lại gần chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 62T1-062.78, mở khóa xe và điều khiển xe chạy đi, nhân viên khách sạn phát hiện, đuổi theo nhưng không kịp nên báo cho chị H biết. Sau khi trộm cắp được tài sản, T sợ bị phát hiện nên điều khiển xe mô tô chạy qua nhiều tuyến đường trên địa bàn phường Dương Đông. Chị H kiểm tra thiết bị định vị gắn trên xe mô tô và nhờ bạn là anh Tống Minh Toàn cùng nhau truy bắt T. Đến khoảng 07 giờ củng ngày, T điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 62T1- 062.78 chạy đến đoạn đường thuộc ấp Bãi Vòng, xã Hàm Ninh, thành phố Phú Quốc thì bị chị H, anh Toàn đuổi theo, bắt quả tang, giao T cùng xe mô tô do T trộm cấp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Phú Quốc.

* Thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:

- Thu giữ tại thời điểm bắt quả tang Nguyễn Văn T: 01 (một) chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ – đen, biển kiểm soát 62T1-062.78, đã qua sử dụng;

- Ông Đặng Tấn Lợi cung cấp: 01 (một) USB nhãn hiệu ADATA, loại 08 Gb, màu đen – đỏ, có chứa dữ liệu trích xuất từ camera ghi lại hình ảnh liên quan đến vụ án, đã lưu hồ sơ vụ án.

* Tại bản Kết luận định giá tài sản số 09, ngày 16/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Phủ Quốc

- Giá trị 01 (một) chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ — đen, biển kiểm soát 62T1-062.78, đã qua sử dụng vào tháng 12/2022 là 8.067.000 đồng (tám triệu không trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).

* Về xử lý vật chứng: Đã trả lại cho bị hại Đoàn Thị H: 01 (một) chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ – đen, biển kiểm soát 6271-062.78, đã qua sử dụng là tài sản do Nguyễn Văn T trộm cắp.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Đoàn Thị H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thưởng trách nhiệm dân sự.

Tại Bản cáo trạng số 57/CT-VKSPQ ngày 24 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội ―Trộm cắp tài sản‖ theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc trình bày lời luận tội và giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội ―Trộm cắp tài sản‖ khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn T từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Chị Đoàn Thị H đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.

Bị hại chị Đoàn Thị H vắng mặt nhưng có ý kiến tại đơn xin vắng mặt: đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm.

Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã tuân thủ nghiêm các quyền và nghĩa vụ của mình, thực hiện các hành vi, quyết định tố tụng đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đánh giá chứng cứ: Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra bị cáo thừa nhận diễn biến sự việc đúng như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố.

Về hành vi phạm tội: Vào khoảng 05 giờ, ngày 28/12/2022, Nguyễn Văn T đã trộm cắp 01 (một) chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ – đen, biển kiểm soát 62T1-062.78, có giá trị 8.067.000 đồng (tám triệu không trăm sáu mươi bảy nghìn đồng) của chị Đoàn Thị H đậu trước khách sạn THE EMFIRE, trên đường Lê Thị Hồng Gấm, khu phố 1, phường Dương Đông, thành phố Phủ Quốc, tỉnh Kiên Giang. Khi T điều khiển xe mô tô trên đến ấp Bãi Vòng, xã Hàm Ninh, thành phố Phú Quốc thì bị chị H truy đuổi, bắt quả tang.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm vào tội ―Trộm cắp tài sản‖ theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Về tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây hoang mang trong dư luận quần chúng nhân dân. Bị cáo đã trưởng thành, đủ nhận thức về hành vi của mình và với sức khỏe của bị cáo có thể tìm cho mình một công việc ổn định để nuôi sống bản thân nhưng với bản chất lười lao động lại muốn thỏa mãn nhu cầu của mình, đã lợi dụng sự sơ hở của bị hại lén lút lấy trộm tài sản để thỏa mãn cho nhu cầu cá nhân. Bị cáo phải chịu trách nhiệm cho hành vi phạm tội của mình đã gây ra.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có một tình tiết tăng nặng là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi lượng hình.

Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát: Tội danh, điều luật áp dụng mà đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Chị Đoàn Thị H đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm, Hội đồng xét xử miễn xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội ―Trộm cắp tài sản‖.

Xử phạt: Nguyễn Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/12/2022.

2. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Chị Đoàn Thị H đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm, Hội đồng xét xử miễn xét.

3. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm không có giá ngạch.

Báo cho bị cáo, bị hại biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (chị Đoàn Thị H vắng mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ