- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Tấn Cường - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê T C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L TỈNH VĨNH L | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ––––––––––––––– Bản án số:70/2023/HS-ST Ngày 07/8/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L H- TỈNH VĨNH L
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Trí Trường
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Trần Thanh Khen
2/ Ông Trần Thanh Hiếu
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mỹ Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện L H - tỉnh Vĩnh L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L H tham gia phiên tòa: ông Dương Vũ Trường Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện L H xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 55/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2022/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2023 đối với:
Bị cáo Lê T C, sinh ngày 30 /10 /1988. Tại tỉnh Vĩnh L.
Nơi cư trú: ấp Phước Hòa, xã Hòa Phú, huyện L H, tỉnh Vĩnh L.
Nghề nghiệp: Làm công nhân; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Cha: Lê Trung Nguyên B, sinh năm 1963; Mẹ: Văn Thị Thu N, sinh năm: 1964; Anh, chị, em ruột: Có 2 người (Lớn sinh năm 1988, nhỏ là bị cáo (anh em sinh đôi); Vợ: Phạm Nguyễn Huy H, sinh năm: 1989; Con: Lê Duy B, sinh năm: 2012; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.
Nhân thân:
- Ngày 19/01/2021 bị Công an xã Nguyễn Văn Thảnh, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh L xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc với số tiền 1.500.000đồng. Nộp phạt ngày 31/3/2021.
Bị cáo tại ngoại có mặt tại toà.
Bị hại: Nguyễn Văn Nhả T, sinh năm 1995. Địa chỉ: ấp Phú Nghĩa, xã Tân Phú, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong H sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê T C và Nguyễn Văn Nhả T, sinh năm 1995, ngụ ấp Phú Nghĩa, xã Tân Phú, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh L cùng là công nhân làm việc tại phân xưởng A13 của công ty Tỷ Xuân thuộc ấp Thạnh Hưng, xã Hòa Phú, huyện L H, tỉnh Vĩnh L. Vào khoảng tháng 01/2023, giữa C và T có xảy ra mâu thuẫn cự cãi nhau nhưng vụ việc đã được công ty hòa giải.
Đến khoảng 21 giờ 35 phút ngày 06/02/2023. C đang đứng ở khu vực cửa xưởng A13, chờ quẹt thẻ ở cửa để đi vô trong làm việc thì Nguyễn Văn Nhã T đi từ bên ngoài vào gặp C, T không nói gì mà xông vào dùng 02 tay đánh trúng vào vùng đầu, mặt của C 03 cái. C liền lùi lại nói “bộ mày khùng hả gì mày đánh tao vậy” thì T nói “đụ má tao đánh mày đó”, nói xong T tiếp tục dùng 02 tay đánh trúng vào đầu C 02 cái nữa, bị đánh đau nên C lấy trong túi đeo trên người ra 01 cây kéo bằng kim loại dài 23cm (kéo dùng để cắt keo, vật tư sản xuất khi làm việc) cầm trên tay phải, C đâm thẳng trúng bụng của T 01 cái, sau đó C rút kéo ra và dừng lại. Lúc này, mọi người có mặt can ngăn ra, C đến đồn công an xã Hòa Phú làm việc, còn T được đưa đi bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh L để điều trị đến ngày 11/02/2023 thì xuất viện.
Kết luận giám định pháp y về thương tích số 73/2023/TgT ngày 08/3/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh L kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Nguyễn Văn Nhã T là 16%.
Tại bản Cáo trạng số: 62 /CT-VKSLH, ngày 25 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện L H truy tố bị cáo Lê T C về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Ý kiến kiểm sát viên tại toà: Vẫn bảo lưu quan điểm của bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê T C phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Đề nghị áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51. Điểm đ khoản 2 điều 134; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê T C mức án từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách từ 04 đến 05 năm.
Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét do bị hại không có yêu cầu.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự. Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu huỷ bỏ 01 cây kéo dài khoảng 23cm.
Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Ý kiến bị cáo tại phiên toà trình bày:
Khoảng 21 giờ ngày 06/02/2023 bị cáo đang đứng chờ vào ca làm việc thì bất ngờ anh T dung tay tấn công vào mặt và đầu của bị cáo. Sự việc thì có nhiều người can ngăn. Do đang bị nóng giận nên bị cáo đã lấy 1 cây kéo từ trong túi xách ra và đâm về phía anh T. Bị cáo có lỗi do không kèm chế được, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo.
Lời sau cùng: Bị cáo xin lỗi anh T. Từ đây về sau anh em ôn hoà. Xin Hội đồng xét xử cho bị cáo ở bên ngoài.
Ý kiến của bị hại tại phiên tòa: Tôi có lỗi là vô cớ tấn công bị cáo vì lúc đó tôi có uống rượu và nhớ lại chuyện cũ. Tôi xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự giữa tôi và bị cáo đã thoả thuận bồi thường xong tất cả các thiệt hại, tôi đã nhận 15.000.000đ và không còn yêu cầu khác. Xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong H sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Tất cả các quyết định, hành vi tố tụng, thủ tục từ giai đoạn phát hiện tội phạm đến truy tố bị cáo. Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ theo qui định của pháp luật tố tụng hình sự. Không có khiếu nại từ người tham gia tố tụng.
Về nội dung:
. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà là phù hợp với lời khai của bị hại. Phù hợp với các tài liệu chứng cứ được thu thập trong H sơ như: Công cụ gây án các dấu vết để lại hiện trường. Hình ảnh trích xuất từ camera, lời khai người làm chứng. Đủ căn cứ để kết luận bị cáo Lê T C đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Bản cáo trạng số 62/CT-VKSLH, ngày 25 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện L H truy tố bị cáo Lê T C về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 bộ Luật hình sự là đúng người đúng tội không bị oan sai.
Hành vi của bị cáo rất nguy hiểm. Mặc dù bị cáo đã bị bị hại tấn công trước nhưng sự việc đã được nhiều người can ngăn và đã có khoảng cách thời gian nhất định. Hành vi của bị hại không còn tính nguy hiểm đối với bị cáo. Bị cáo không lựa chọn cách xử sự cho phù hợp với pháp luật, lại dung kéo là hung khí nguy hiểm để tấn công và gây thương tích cho bị hại. Do đó, việc xử lý bị cáo là cần thiết để lập lại trật tự chung cho đời sống bình thường của mọi người.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thật thà khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải. Bị cáo có thiện chí khắc phục thiệt hại sau vụ án. Bị cáo có thời gian tham gia dân quân tự vệ ở địa phương. Gia đình bị cáo có truyền thống cách mạng, có bác ruột là ông Trần Văn Bé là liệt sĩ. Người bị hại có lỗi và lỗi của người bị hại là nguyên nhân dẫn đến vụ án, và cũng là nguyên nhân làm cho bị cáo bị kích động về tinh thần; tại Toà người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin cho bị cáo được hưởng án treo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ Hội đồng xét xử có xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Do tập trung nhiều tình tiết giảm nhẹ. Bị cáo có nghề nghiệp ổn định, có nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử thống nhất không áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo; chỉ cần cho bị cáo hưởng án treo và ấn định một khoảng thời gian thử thách theo quy định của pháp luật cũng đủ cho bị cáo tự cải tạo trở thành công dân tốt.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận 15.000.000đồng tiền bồi thường từ bị cáo và không có yêu cầu khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Cây kéo bị cáo dùng gây thương tích cho người bị hại giá trị không đáng kể nên phải tịch thu hủy bỏ.
Quan điểm kiểm sát viên tại tòa được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẻ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê T C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm đ khoản 2 điều 134, các điểm b, s, e khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt Lê T C 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, Thời gian thử thách 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 07/8/2023).
Giao bị cáo Lê T C cho Uỷ ban nhân dân xã Hoà Phú, huyện L H giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách nếu bị cáo Lê T C cố ý vi phạm nghĩa vụ theo qui định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên,
thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của
bản án mới theo qui định.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu hủy bỏ 01 cây kéo bằng kim loại dài khoảng 23cm. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26 tháng 5 năm 2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện L H.
3.Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH 14 về án phí, lệ phí, tòa án buộc bị cáo Lê T C nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, bị hại có mặt tại tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAT; - VKS. H,T ; - CC. THA; -Sở Tư pháp; -CQCSĐT L H; -Phòng H sơ CAVL; - Bị cáo; bị hại; NLQ; -UBND xã Hòa Phú,, LH, VL; -Nhà tạm giữ L H; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trí Trường |