- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Trương Thị N được ly hôn anh Bùi Văn Đ.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2023/HNGĐ- ST Ngày: 19 - 7- 2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Tuấn;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Văn Đảm; bà Nguyễn Thị Hà.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thắm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 41/2023/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2023 về Ly hôn, tranh chấp nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2023/ QĐXXST-HNGĐ ngày 12/6/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 31/2023/QĐST- HNGĐ ngày 26/6/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trương Thị N - Sinh năm: 2000
Nơi ĐKHKTT: Thôn B, xã T, huyện T, Thanh Hóa.
Chỗ ở hiện nay: Thôn Y, xã T, huyện T, Thanh Hóa.
- Bị đơn: Anh Bùi Văn Đ - Sinh năm: 1997 Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên tòa chị Trương Thị N vắng mặt; anh Bùi Văn Đ vắng mặt lần thứ hai (Không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 27/02/2023, bản tự khai ngày 02/6/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Trương Thị N trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh Bùi Văn Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 05/11/2018. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống hòa thuận được một năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp, nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Gia đình hai bên đã nhiều lần khuyên giải nhưng tình cảm vợ chồng không cải thiện được. Vợ, chồng đã sống ly thân hai năm nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên đề nghị TAND huyện Thạch Thành giải quyết cho chị N được ly hôn anh Đ.
- Về con chung: Vợ, chồng có 01 con chung là cháu Bùi Tuấn A, sinh ngày: 27/7/2018. Sau khi ly hôn, chị N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bùi Tuấn A và yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị mỗi tháng số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng), Thời gian đóng góp tiền nuôi con chung từ khi ly hôn cho đến khi cháu Bùi Tuấn A đủ 18 tuổi.
- Về tài sản: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập anh Bùi Văn Đ để nộp bản tự khai và thông báo tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Đ đều vắng mặt không có lí do.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX), Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS); nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83; 110; 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Xử cho chị Trương Thị N được ly hôn anh Bùi Văn Đ. Giao cháu Bùi Tuấn A, sinh ngày: 27/7/2018 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc. Anh Đ cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị N mỗi tháng số tiền 1.500.000 đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) đến khi cháu Bùi Tuấn A đủ 18 tuổi.
-Về án phí: Chị Trương Thị N phải chịu án phí hôn nhân gia đình, anh Đ phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
Về tố tụng: Chị Trương Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn đối với anh Bùi Văn Đ. Anh Đ có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Nên xác định đây là vụ án ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự, nhưng anh Đ vắng mặt không có lí do, tòa án đã tiến hành mở phiên họp vắng mặt anh Đ và thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ cho anh Đ theo khoản 3 Điều 210 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Đ đã được triệu tập hợp lệ đến phiên hoà giải nhiều lần nhưng anh Đ đều không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 điều 207 BLTTDS.
Anh Đ cũng đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tòa án xét xử vắng mặt anh Đ.
Về hôn nhân: Chị Trương Thị N và anh Bùi Văn Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa và không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp. Chị N và anh Đ đã sống ly thân hai năm nay, không ai quan tâm đến ai. Điều đó chứng tỏ chị N và anh Đ đã không còn tình cảm gì với nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị N được ly hôn anh Đ là phù hợp.
Về con chung: Vợ, chồng có 01 con chung là cháu Bùi Tuấn A, sinh ngày: 27/7/2018. Khi ly hôn, chị N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bùi Tuấn A, chị N yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị mỗi tháng số tiền 1.500.000 đồng đến khi cháu Tuấn A đủ 18 tuổi.
Hiện nay cháu Bùi Tuấn A đang ở với chị N, được chị N nuôi dưỡng, chăm sóc. Khi ly hôn chị N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bùi Tuấn A. Để đảm bảo sự phát triển ổn định về mọi mặt cho cháu Tuấn A. HĐXX thấy: Hiện nay cháu Tuấn A đang còn nhỏ, rất cần sự chăm sóc của người mẹ. Vì vậy chấp nhận yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bùi Tuấn A của chị N. Giao cháu Bùi Tuấn A cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng; chị N yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị mỗi tháng số tiền 1.500.000 đồng, phù hợp với pháp luật nên được chấp nhận.
Về tài sản chung: Chị N không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Trương Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn; anh Đ phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con định kỳ theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51; 56; 57; 58; 81; 82; 83; 110; 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 của BLTTDS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban T, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Trương Thị N được ly hôn anh Bùi Văn Đ.
2. Về con chung: Giao cháu Bùi Tuấn A, sinh ngày: 27/7/2018 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, anh Đ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu Bùi Tuấn A cùng chị N mỗi tháng số tiền 1.500.000 đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ tháng 07/2023 cho tới khi cháu Bùi Tuấn A đủ 18 tuổi hoặc đến khi các đương sự có yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng khác.
Khoản tiền cấp dưỡng nuôi con được thi hành ngay, mặc dù bản án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Anh Đ có quyền đi lại thăm nom , chăm sóc con chung không ai được ngăn cấm, cản trở.
3. Về án phí: Chị Trương Thị N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền chị đã nộp tạm ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành, theo biên lai số AA/2021/0007972 ngày 08/3/2023. Chị N đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Anh Bùi Văn Đ phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con định kỳ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt chị Trương Thị N, vắng mặt anh Bùi Văn Đ. Chị N có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Đ có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Thạch Thành; - Chi cục THADS huyện Thạch Thành; - UBND xã Thạch Sơn; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Tuấn |