- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Thị Phương Hồng.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2023/HNGĐ-ST Ngày: 29-6-2023 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ – TỈNH ĐỒNG NAI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đức.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Ngọc Thành và bà Hoàng Thị Bích Ngọc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Văn Năng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Huỳnh – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 137/2023/TLST-HNGĐ ngày 27/3/2023 về việc tranh chấp "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/5/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2023/QĐST-HNGĐ ngày 12/6/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Phƣơng H - sinh năm: 1996.
Địa chỉ thường trú: Thôn L L, xã C Th, huyện Cam Lợi, tỉnh Quảng Trị.
Địa chỉ tạm trú: Khu phố V Ph, phường Th H, thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Bị đơn: Ông Mai Xuân H – sinh năm: 1991.
Địa chỉ: Tổ 4, ấp Ph H B, xã Ph B, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
(Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn xin ly hôn, lời khai trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Hoàng Thị Phương H trình bày:
Bà và ông Mai Xuân H tiến đến hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Cam Thủy, huyện Cam Lộc, tỉnh Quảng Trị cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 25/02/2019.
Trong cuộc sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung không hạnh phúc, ông Hưng thường xuyên ăn nhậu không lo làm ăn để lo cho cuộc gia đình mặc dù bà đã khuyên bảo nhiều lần nhưng ông H không thay đổi dẫn đến vợ chồng hay xảy ra cãi vã nhau rồi đánh đập bà nhiều lần. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 3/2021 cho đến nay, không còn quan tâm chăm sóc nhau. Vì tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H.
Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung là cháu Mai Hồng A – sinh ngày 19/01/2019 đang ở cùng ông H nên bà giao cháu A cho ông H nuôi dưỡng và bà cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng 2.000.000 đồng, kể từ tháng 7/2023 cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Mai Xuân H: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm ông Mai Xuân H không có mặt để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, mặc dù đã được tống đạt hợp lệ.
Tòa án đã tiến hành sao gửi các tài liệu chứng cứ nguyên đơn giao nộp cho bị đơn và thông báo về việc thu thập được tài liệu chứng cứ cho các đương sự.
Qúa trình giải quyết vụ án, các đương sự không thay đổi, bổ sung ý kiến, đề nghị của mình; bị đơn ông Mai Xuân H không có yêu cầu phản tố. Các đương sự không giao nộp, bổ sung tài liệu chứng cứ nào khác, không yêu cầu triệu tập đương sự, người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán, Thư ký, nguyên đơn đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đúng thành phần, xét xử đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung:
Xét thấy yêu cầu xin ly hôn của bà Hoàng Thị Phương H là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H.
Về hôn nhân: Bảo H được ly hôn với ông H.
Về con chung: Giao cho ông H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Mai Hồng A – sinh ngày 19/01/2019. Bà H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng số tiền 2.000.000 đồng.
Về tài sản chung, nợ chung: Giành quyền khởi kiện cho đương sự khi có phát sinh tranh chấp.
Về án phí: Bà Hoàng Thị Phương H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Căn cứ vào đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Xác định tư cách đương sự bà H là nguyên đơn và ông H là bị đơn theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tống đạt văn bản tố tụng: Nguyên đơn có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Mai Xuân H. Về tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ đương sự không có ý kiến gì. Ngày 12/6/2023, Tòa án mở phiên tòa nhưng do ông Mai Xuân H vắng mặt lần thứ nhất nên Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa và ấn định thời gian mở lại phiên tòa là ngày 29/6/2023.
Tại phiên tòa hôm nay, mặc dù ông Mai Xuân H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về quan hệ hôn nhân:
Bà Hoàng Thị Phương H và ông Mai Xuân H kết hôn là do tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân xã Cam Thủy, huyện Cam Lộc, tỉnh Quảng Trị cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 25/02/2019, theo quy định của pháp luật đây là hôn nhân hợp pháp.
Tại biên bản lấy lời khai của đương sự, kết quả xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án về tình trạng hôn nhân tại địa phương và các tài liệu, chứng cứ khác thể hiện: Bà H yêu cầu được ly hôn ông H vì tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng thường xuyên cãi nhau do cuộc sống chung không hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 3/2021 cho đến nay, mạnh ai người đó sống, không quan tâm chăm sóc gì đến nhau. Lời trình bày của bà H phù hợp với biên bản xác minh tại địa phương xã Ph B, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Ông H biết việc bà H xin ly hôn nhưng không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng, mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông H không đến Tòa làm việc, không có văn bản thể hiện ý kiến của mình trước yêu cầu khởi kiện của bà H. Như vậy, ông H đã tự từ bỏ quyền lợi của mình, có thái độ bỏ mặc, muốn ra sao thì ra không có thiện trí hàn gắn đoàn tụ gia đình.
Xét thấy: Hôn nhân của bà H, ông H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H là có cơ sở.
Về con chung: Ông, bà có 01 người con chung là cháu Mai Hồng Anh – sinh ngày 19/01/2019. Xét thấy: cháu Mai Hồng A còn nhỏ, hiện đang ở với ông H được ông H chăm sóc tốt, khi ly hôn thì bà H giao cháu Mai Hồng A cho ông H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cũng như sự phát triển bình thường về thể chất, tinh thần cho con nên căn cứ vào Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu A cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng. Bà H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng với số tiền 2.000.000 đồng, kể từ tháng 7/2023 cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi.
Về tài sản: Bà Hoàng Thị Phương H trình bày vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Mai Xuân H không có văn bản trình bày ý kiến về tài sản chung, nợ chung và không có yêu cầu phản tố. Vì vậy, Hội đồng xét xử tách phần tài sản ra giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
Từ những phân tích, đánh giá chứng cứ như trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chấp nhận toàn bộ ý kiến của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa.
Về án phí: Bà Hoàng Thị Phương H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Thị Phương Hồng.
1. Về hôn nhân: Bà Hoàng Thị Phương H được ly hôn với ông Mai Xuân H.
2. Về con chung: Có 01 người con chung là cháu Mai Hồng A – sinh ngày 19/01/2019. Giao cho ông Mai Xuân H có quyền và nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 01 người con chung là cháu Mai Hồng A. Bà Hoàng Thị Phương H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng với số tiền 2.000.000 đồng, kể tháng 7/2023 cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi.
Bà Hoàng Thị Phương H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền thay đổi việc nuôi con theo quy định của pháp luật.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành án thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án tại thời điểm thanh toán.
3. Về tài sản: Tài sản chung và nợ chung của các đương sự sẽ được giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
4. Về án phí: Bà Hoàng Thị Phương H phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm (về ly hôn) và chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) về án phí dân sự (về cấp dưỡng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai số 0000114 ngày 27/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Bà H còn phải nộp thêm số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng).
5. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, sơ thẩm, các đương sự được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án. Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND huyện Tân Phú;
| Nơi nhận: - Chi cục THA dân sự - Các đương sự; huyện Tân Phú; - VKSND huyện Tân Phú; - UBND xã Tà Lài; - Chi cục THA dân sự - Lưu (hồ sơ, án văn)./. huyện Tân Phú; - UBND xã Cam Thủy, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị (số 06, ngày 25/02/2019) để ghi vào sổ hộ tịch; - Lưu (hồ sơ, án văn)./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Bá Đức Nguyễn Bá Đức |