vanban.org

Bản án 70/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Klau Thị Thu T đối với bị đơn anh Đỗ Văn T về ly hôn, tranh chấp nuôi con.

Xử cho chị Klau Thị Thu T ly hôn anh Đỗ Văn T. Về con chung: Có 01 con chung tên Đỗ Ngọc Anh T2, sinh ngày 23/6/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Klau Thị Thu T - Đỗ Văn T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Klau Thị Thu T đối với bị đơn anh Đỗ Văn T về ly hôn, tranh chấp nuôi con.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2023/HNGĐ-ST.
Ngày: 30-5-2023.
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Minh Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Công Minh.

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Đẹp.

- T2 ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - T2 ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 161/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2023 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 101/2023/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Klau Thị Thu T, sinh năm 1992.

Địa chỉ: 227/TT, Tổ 13, ấp AB, xã BA, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Đỗ Văn T, sinh năm 1988.

Địa chỉ: 513, Tổ 1, Ấp 10, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

(Chị T, anh T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện ngày 27/02/2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Klau Thị Thu T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đỗ Văn T tự tìm hiểu và xây dựng gia đình với nhau từ năm 2021, có tổ chức lễ cưới, sau đó mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai ngày 22/6/2022. Trong thời gian chung sống, chị và anh T sống tại nhà ba mẹ anh T tại ấp 10, xã Bình Sơn. Thời gian đó, anh T không lo làm ăn, ham chơi, không quan tâm đến gia đình, chị đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh T vẫn không thay đổi dẫn đến vợ chồng T2ờng xuyên cãi nhau và không còn yêu T2ơng nhau, tôn trọng lẫn nhau, không thể xây dựng gia đình hạnh phúc được nữa. Đến tháng 9/2022, chị bỏ về nhà ba mẹ chị tại ấp AB, xã BA sinh sống cho đến nay. Trong thời gian chị về nhà ba mẹ sinh sống, lúc đầu anh T có gọi điện thoại hỏi thăm nhưng sau đó không gọi nữa, thỉnh thoảng 01-02 tháng anh T có đến thăm con 01 lần. Nay chị yêu cầu ly hôn anh T.

Về con chung: Có 01 con chung Đỗ Ngọc Anh T2, sinh ngày 23/6/2022 hiện đang do chị nuôi dưỡng. Chị yêu cầu nuôi dưỡng cháu T2, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

2. Bị đơn anh Đỗ Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có ý kiến trình bày.

3. Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong việc xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, tư cách tố tụng, thu thập chứng cứ và tiến hành tố tụng đúng quy định. Hội đồng xét xử, T2 ký phiên tòa tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn được đảm bảo về quyền, lợi ích hợp pháp. Nguyên đơn thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về ý kiến giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Klau Thị Thu T đối với bị đơn anh Đỗ Văn T, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh T.

Về con chung: Chị T và anh T có 01 con chung tên Đỗ Ngọc Anh T2, sinh ngày 23/6/2022 hiện đang do chị T nuôi dưỡng, chị T yêu cầu được nuôi dưỡng cháu T2, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Xét con chung chưa đủ 36 tháng tuổi và hiện đang do chị T nuôi dưỡng. Đối với anh T không có mặt, không có ý kiến đối với yêu cầu nuôi con của chị T nên đề nghị xử giao con chung cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị T không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét; Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm về tố tụng: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh trụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Nguyên đơn chị Klau Thị Thu T có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt, bị đơn anh Đỗ Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Klau Thị Thu T và anh Đỗ Văn T tự tìm hiểu và xây dựng gia đình với nhau từ năm 2021, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai theo giấy chứng nhận kết hôn số 168/2022 ngày 22/6/2022 nên được xác định là hôn nhân hợp pháp.

Nguyên đơn chị T khởi kiện yêu cầu ly hôn anh T và cho rằng trong thời gian chung sống, anh T không lo làm ăn, ham chơi, không quan tâm đến gia đình, chị đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh T vẫn không thay đổi dẫn đến vợ chồng T2ờng xuyên cãi nhau và không còn yêu T2ơng nhau, tôn trọng lẫn nhau, không thể xây dựng gia đình hạnh phúc được nữa, chị bỏ về nhà ba mẹ chị sinh sống từ tháng 9/2022 cho đến nay. Đối với bị đơn anh T đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt không cung cấp ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của chị T.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập chị T và anh T đến Tòa án để hòa giải cho anh chị đoàn tụ nhưng anh T không có mặt nên không tiến hành hòa giải được. Qua đó, cho thấy anh T đã bỏ mặc mối quan hệ hôn nhân của hai vợ chồng và không mong muốn vợ chồng đoàn tụ.

Xét thấy, hôn nhân giữa chị T và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị T đối với anh T, xử cho chị T ly hôn anh T.

Về con chung: Chị T và anh T có 01 con chung tên Đỗ Ngọc Anh T2, sinh ngày 23/6/2022.

Xét thấy, cháu T2 chưa đủ 36 tháng tuổi và đang do chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tòa án đã triệu tập anh T để ghi nhận ý kiến đối với yêu cầu nuôi con nhưng anh T không có mặt, không cung cấp ý kiến cho thấy anh T không có trách nhiệm, không mong muốn nuôi dưỡng con chung. Do đó, để đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con, cần xử giao cháu T2 cho chị T được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Chị T không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung: Chị T trình bày vợ chồng không có tài sản chung, anh T không có ý kiến trình bày nên không xem xét.

Về nợ chung: Chị T trình bày vợ chồng không có nợ chung, anh T không có ý kiến trình bày nên không xem xét.

Về án phí: Chị Klau Thị Thu T khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Đỗ Văn T, do đó chị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban T2ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Klau Thị Thu T đối với bị đơn anh Đỗ Văn T về ly hôn, tranh chấp nuôi con.

1. Xử cho chị Klau Thị Thu T ly hôn anh Đỗ Văn T.

2. Về con chung: Có 01 con chung tên Đỗ Ngọc Anh T2, sinh ngày 23/6/2022.

Xử giao cháu Đỗ Ngọc Anh T2, sinh ngày 23/6/2022 cho chị Klau Thị Thu T được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng: Không xem xét.

Sau khi ly hôn, chị T, anh T vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ, hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên, cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.

4. Về án phí: Chị Klau Thị Thu T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0009120 ngày 03/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai (Chị T đã nộp xong).

5. Về quyền kháng cáo: Chị Klau Thị Thu T và anh Đỗ Văn T có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ