- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hôn nhân gia đinh"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Minh H đối với chị Nguyễn Thị Lan C. Cho anh Nguyễn Minh H ly hôn với chị Nguyễn Thị Lan C.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28-4-2023 “Xin ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Diễm Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hằng
2. Bà Huỳnh Kim Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hồ Quế Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long: Không thuộc trường hợp tham gia phiên tòa.
Hôm nay, ngày 28 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 577/2022/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp “Xin ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/QĐXXST- HNGĐ, ngày 22 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Minh H, sinh năm 1988, nơi cư trú: ấp Long T, xã Long A, huyện Long H, tỉnh Vĩnh Long. (có mặt)
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Lan C, sinh năm 1983 nơi cư trú: ấp Long T, xã Long A, huyện Long H, tỉnh Vĩnh Long. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 26/10/2022 và trong quá trình xét xử nguyên đơn trình bày:
Vào năm 2016 anh H và chị C do quen biết nhau nên tiến đến hôn nhân, có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Anh chị có đăng ký kết hôn tại UBND xã Long A, huyện Long H, tỉnh Vĩnh Long được cấp giấy chứng nhận ngày 28/3/2016.
Trong thời kỳ hôn nhân anh H và chị C có 01 con chung tên Nguyễn Trường A, sinh ngày 19/3/2019 hiện con chung do chị C nuôi dưỡng.
Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc, đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẩn do không hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng hay cự cải nhau, hiện anh chị đã sống ly thân, không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Anh H đã cố gắng để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được. Anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó anh yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
Về hôn nhân: Anh Nguyễn Minh H yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị Lan C.
Về con chung: Nguyễn Trường A, sinh ngày 19/3/2019 anh H đồng ý để chị C tiếp tục nuôi dưỡng, anh H tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu A mỗi tháng số tiền 2.000.000 đồng cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi.
Về quan hệ tài sản: Tự thỏa thuận không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết.
* Ý kiến trình bày của bị đơn chị C: Bị đơn có ý kiến thống nhất lời trình bày của nguyên đơn anh H về hôn nhân, con chung, thời gian kết hôn, mâu thuẩn vợ chồng. Vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên chị đồng ý ly hôn. Sau khi ly hôn chị đồng ý tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Trường A, sinh ngày 19/3/2019, anh H cấp dưỡng nuôi cháu A mỗi tháng số tiền 2.000.000 đồng cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi. Về quan hệ tài sản: Tự thỏa thuận không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn anh Nguyễn Minh H trình bày sau khi anh nộp đơn xin ly hôn Tòa án mời hòa giải ngày 26/10/2022 thì anh H và chị C thống nhất ly hôn, con chung, mức cấp dưỡng nuôi con nhưng chưa thỏa thuận thời gian bắt đầu cấp dưỡng nuôi con, sau đó Tòa án mời thì C không đến Tòa án để giải quyết cho đến hôm nay C vẫn vắng mặt, tại phiên tòa anh H vẫn giữ yêu cầu khởi kiện về hôn nhân yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị Lan C. Về con chung cháu Nguyễn Trường A, sinh ngày 19/3/2019, anh H đồng ý để chị C tiếp tục nuôi dưỡng, anh H cấp dưỡng nuôi cháu A mỗi tháng số tiền 2.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 26/10/2022 cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi. Về quan hệ tài sản tự thỏa thuận không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Minh H có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Long Hồ giải quyết ly hôn chị Nguyễn Thị Lan C, sinh năm 1983 cư trú ấp Long T, xã Long A, huyện Long H, tỉnh Vĩnh Long. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng như thông báo thụ lý vụ án, được triệu tập hợp lệ dự phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, triệu tập tham dự phiên tòa sơ thẩm cho chị Nguyễn Thị Lan C đúng theo quy định của pháp luật nhưng chị C vắng mặt không lý do. Do đó, căn cứ Khoản 3 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị Lan C.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân anh Nguyễn Minh H và chị Nguyễn Thị Lan C có đăng ký kết hôn tại UBND xã Long An, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 28/3/2016 đúng theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận. Anh Nguyễn Minh H xin ly hôn chị Nguyễn Thị Lan C đồng ý ly hôn. Đây là sự tự thỏa thuận của các đương sự không trái pháp luật, đạo đức xã hội. Do đó, áp dụng Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện ly hôn giữa anh Nguyễn Minh H và chị Nguyễn Thị Lan C.
Về con chung: Cháu Nguyễn Trường A, sinh ngày 19/3/2019 anh H đồng ý để chị C tiếp tục nuôi dưỡng, anh H tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu A mỗi tháng số tiền 2.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 26/10/2022 cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi, đây là sự tự nguyện của anh H và trong suốt quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa hôm nay Tòa án hoàn toàn không nhận được ý kiến phản bác nào của chị C về vấn đề anh H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung. Đây là sự tự nguyện của anh H và không trái pháp luật, đạo đức xã hội cho nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Anh H không trực tiếp nuôi con chung nhưng có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, chị C không được ngăn cản.
Về quan hệ tài sản: Anh Nguyễn Minh H và chị Nguyễn Thị Lan C thống nhất không tranh chấp không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Anh Nguyễn Minh H phải nộp số tiền 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Do các đương sự đã thỏa thuận được mức cấp dưỡng nuôi con trước khi Tòa án mở phiên tòa nên nguyên đơn phải nộp số tiền 150.000 đồng án phí dân sự cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147; Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 9, 55 và Điều 81, 82, 83, 84 và Điều 110, 116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a Khoản 5, Khoản 6 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1.Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Minh H đối với chị Nguyễn Thị Lan C. Cho anh Nguyễn Minh H ly hôn với chị Nguyễn Thị Lan C.
2. Về nuôi dưỡng con chung: Giao cháu Nguyễn Trường An, sinh ngày 19/3/2019 cho chị Nguyễn Thị Lan C nuôi dưỡng.
3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Minh H cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Trường A, sinh ngày 19/3/2019 mỗi tháng số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng), thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 26/10/2022 cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.
4. Về quan hệ tài sản: Anh Nguyễn Minh H và Chị Nguyễn Thị Lan C thống nhất tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
5. Về án phí sơ thẩm: Buộc anh Nguyễn Minh H phải nộp số tiền 150.000 đồng án phí dân sự cấp dưỡng nuôi con và số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm. Khấu trừ số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo lai thu số 0004504 ngày 24 tháng 11 năm 2022 của C cục thi hành án dân sự huyện Long Hồ. Vậy anh Nguyễn Minh H còn phải tiếp tục nộp số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm chục nghìn đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6,7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
7. Án xử công khai nguyên đơn có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - TAND. Tỉnh Vĩnh Long 01; - VKSND.H Long Hồ 01; - C cục THADS.H Long Hồ 01; - UBND xã Long An 01; - Các đương sự 02; - Lưu hồ sơ 01. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Diễm |