vanban.org

Bản án 70/2023/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Đ về việc yêu cầu bà Lê Thị H và ông Đào Công P liên đới trả tiền hụi còn thiếu.

Cụ thể tuyên: Buộc bà Lê Thị H và ông Đào Công P có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Lê Thị Đ số tiền hụi còn thiếu là 96.551.000 đồng (Chín mươi sáu triệu năm trăm năm mươi một nghìn đồng), trong đó vốn: 66.290.000 đồng (Sáu mươi sáu triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng) và lãi: 30.261.000 đồng (Ba mươi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng góp hụi giữa bà Lê Thị Đ và bà Lê Thị H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Đ về việc yêu cầu bà Lê Thị H và ông Đào Công P liên đới trả tiền hụi còn thiếu.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỎ CÀY NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 70/2023/DS-ST
Ngày: 28-7-2023
“V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM - TỈNH BẾN TRE

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thúy Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Nguyễn Văn Hết

- Ông Ngô Bá Đức

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Thu Thảo – Thư ký Tòa án

nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre

tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Lanh – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2022, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 109/2023/TLST – DS, ngày 08/5/2023, về: “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 264/2023/QĐXX – ST, ngày 17/7/2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1974. Địa chỉ cư trú: ấp T, xã C, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1999; Địa chỉ cư trú: ấp C, xã H, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1973. Địa chỉ cư trú: ấp P, xã C, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đào Công P, sinh năm 1970. Địa chỉ cư trú: ấp P, xã C, huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

Bà D, bà H có mặt.

Ông P vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 19/4/2023 của nguyên đơn bà Lê Thị Đ, lời trình bày trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa của người đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thị Kim D có nội dung:

Trong đơn khởi kiện, bà Lê Thị Đ yêu cầu Tòa án buộc bà Lê Thị H và ông Đào Công P liên đới trả cho bà số tiền 88.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả tính từ ngày 11/12/2018 đến ngày 11/4/2023 với mức lãi suất là 0,83%/tháng số tiền là 37.980.000 đồng (Ba mươi bảy triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng). Đồng thời, bà H và ông P tiếp tục chịu tiền lãi với mức lãi suất là 0,83%/tháng đến ngày vụ án có kết quả giải quyết cuối cùng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Lê Thị Đ đồng ý thay đổi yêu cầu khởi kiện, từ yêu cầu 88.000.000 đồng (là hụi có lãi) xuống yêu cầu là 66.290.000 đồng. Số tiền 66.290.000 đồng này, bà Đ yêu cầu trách nhiệm liên đới giữa bà H và ông P và vẫn giữ yêu cầu tính lãi từ 11/12/2018 đến ngày có kết quả giải quyết cuối cùng với mức lãi suất là 0,83%/tháng.

Lý do yêu cầu: Do trước đây bà Lê Thị Đ có tham gia 01 dây hụi do bà Lê Thị H mở: Dây hụi 2.000.000 đồng khui ngày 25/10/2017 (06/9al), có 31 người chơi, bà Đ tham gia 02 phần (mua lại từ hụi viên khác, được bà H đồng ý). Đến ngày 10/12/2018 (04/11al) thì bà H vỡ hụi. Từ đó đến nay bà Đ đòi nhiều lần nhưng bà H không trả. Bà H chơi hụi nhằm mục đích phát triển kinh tế gia đình nên buộc chồng của bà H là ông Đào Công P cùng trả.

- Lời trình bày của bị đơn bà Lê Thị H trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa có nội dung:

Bà thừa nhận còn thiếu bà Đ với số tiền là 66.290.000 đồng (số tiền này là tiền hụi do bà Đ mua lại từ hụi viên khác và được bà đồng ý). Nay bà đồng ý trả nhưng chỉ trả 01 mình. Chồng của bà là ông Đào Công P không liên quan, không có nghĩa vụ cùng trả. Không đồng ý trả lãi như bà Đ yêu cầu.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đào Công P trình bày trong quá trình tố tụng có nội dung:

Ông không đồng ý với yêu cầu của bà Đ về việc buộc trách nhiệm liên đới đối với tiền hụi mà bà H phải trả cho bà Đ do không liên quan, không biết việc thỏa thuận chơi hụi này. Xin vắng mặt tại các lần Tòa án triệu tập.

- Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam phát biểu cho rằng:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng về thẩm quyền thụ lý vụ án; ra thông báo thụ lý vụ án và gửi cho Viện kiểm sát đúng quy định; quá trình thu thập chứng cứ đúng quy định; kiểm tra chứng chứng và hòa giải đúng quy định; thời hạn chuẩn bị xét xử đúng quy định; nội dung quyết định đưa vụ án ra xét xử và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng quy định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký cũng như những người tham gia tố tụng nghiêm túc thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình được Bộ luật tố tụng dân sự quy định.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Nghe vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam trình bày quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự và nội dung giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Căn cứ vào đơn khởi kiện và nội dung yêu cầu của bà Lê Thị Đ, Hội đồng xét xử xác định vụ án có quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”; trong đó xác định bà Lê Thị Đ là nguyên đơn (Do bà Nguyễn Thị Kim D là người đại diện theo ủy quyền tại phiên tòa); Bà Lê Thị H là bị đơn và ông Đào Công P là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Xét việc vắng mặt của ông Đào Công P, có đơn xin vắng, có lý do nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông P theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về nội dung giải quyết vụ án:

* Về số tiền góp hụi 66.290.000 đồng mà bà Đ yêu cầu, Hội đồng xét xử xét thấy:

Phía bà H thừa nhận bà H có trực tiếp mở 01 dây hụi, thống nhất do bà H bị vỡ hụi nên còn nợ bà Đ số tiền là 66.290.000 đồng như bà Đ yêu cầu. Căn cứ khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định đây là sự thật, được thừa nhận, bà Đ không cần phải chứng minh. Do bà H vi phạm thỏa thuận nên bà Đ yêu cầu trả số tiền này là phù hợp, được chấp nhận theo quy định tại Điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2015.

* Về việc bà Đ yêu cầu trách nhiệm liên đới giữa bà H và ông P đối với số tiền trên, Hội đồng xét xử xét thấy:

Tuy bà H cho rằng việc bà tham gia góp hụi là để lấy tiền hoa hồng của đầu thảo chi tiêu cá nhân nhưng bà H thừa nhận bà và ông P là vợ chồng, có đăng ký kết hôn, sống chung đã 30 năm, có con chung. Như vậy, việc bà H tham gia góp hụi được thực hiện trong thời kỳ hôn nhân với ông P. Bà H cho rằng do điều kiện kinh tế khó khăn nên từ khi cưới nhau đến nay vợ chồng mỗi người làm 01 công việc khác nhau để kiếm tiền trang trãi cuộc sống và chi phí hằng ngày của gia đình, cùng nuôi con (nay con đã lớn). Theo khoản 1 Điều 30 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì: "Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình”. Do đó, đủ căn cứ xác định đây là khoản nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, buộc ông P phải có trách nhiệm liên đới cùng trả là phù hợp.

* Xét việc nguyên đơn yêu cầu tính lãi từ 11/12/2018 đến ngày có kết quả giải quyết cuối cùng với mức lãi suất là 0,83%/ tháng của số tiền 66.290.000 đồng:

Căn cứ vào quy định tại Điều 357, khoản 3 Điều 440, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, do phía bà H chậm trả tiền nên phải có nghĩa vụ trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Xét mức lãi nguyên đơn yêu cầu (0.83%/tháng) không vượt quá mức lãi quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.

Về thời điểm trả tiền lãi chậm trả, nguyên đơn yêu cầu là phù hợp vì ngày 11/12/2018 là ngày tiếp theo ngày bà H bị vỡ hụi, không trả tiền hụi. Do đó, bà H phải chịu tiền lãi chậm trả của số tiền nợ gốc, cụ thể: Tiền lãi: Tính từ ngày 11/12/2018 đến ngày 28/7/2023 là 55 tháng (tính tròn tháng theo yêu cầu của nguyên đơn) x 0.83%/tháng x 66.290.000 đồng = 30.261.000 đồng.

Tổng cộng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 28/7/2023 là: 96.551.000 đồng, buộc bà H và ông P phải liên đới trả cho bà Đ.

Đối với số tiền chênh lệch theo đơn khởi kiện, bà Đ rút yêu cầu nên đình chỉ.

Các đương sự không có yêu cầu khác nên không xem xét, giải quyết.

Bà H và ông P phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền có nghĩa vụ phải trả.

[3]. Xét đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 68, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 357, Điều 468, Điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 27, Điều 31 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVWQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Đ về việc yêu cầu bà Lê Thị H và ông Đào Công P liên đới trả tiền hụi còn thiếu.

Cụ thể tuyên:

1. Buộc bà Lê Thị H và ông Đào Công P có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Lê Thị Đ số tiền hụi còn thiếu là 96.551.000 đồng (Chín mươi sáu triệu năm trăm năm mươi một nghìn đồng), trong đó vốn: 66.290.000 đồng (Sáu mươi sáu triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng) và lãi: 30.261.000 đồng (Ba mươi triệu hai trăm sáu mươi một nghìn đồng).

2. Đình chỉ phần chênh lệch theo đơn khởi kiện của bà Lê Thị Đ (do rút yêu cầu) là: 21.710.000 đồng (Hai mươi một triệu bảy trăm mười nghìn đồng).

Các đương sự không còn yêu cầu nào khác, không xem xét.

3. Án phí dân sự sơ thẩm:

Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: 4.827.000 đồng (Bốn triệu tám trăm hai mươi bảy nghìn đồng), buộc bà Lê Thị H và ông Đào Công P phải liên đới chịu.

Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí 3.150.000 đồng (Ba triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004795 ngày 05/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam cho bà Lê Thị Đ.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân nơi người đó cư trú để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ