- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng - Trần H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2023/DS-ST. Ngày: 11 - 5 - 2023. “V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Dương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Quang;
2. Bà Nguyễn Thị Tạc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên toà: Ông Phạm Đức Lễ – C/v Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 5 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 615/2022/TLST-DS ngày 22 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2023/QĐXX-DS ngày 31 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng S.
Địa chỉ: Lầu A, Số X đường K, Phường M, Quận N, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện ký đơn khởi kiện theo ủy quyền là ông V – Giám đốc Ngân hàng S chi nhánh tỉnh Đắk Lắk.
Địa chỉ: Số Y đường P, phường N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện tham gia tố tụng theo ủy quyền là ông T – Chuyên viên Kiểm soát rủi ro (Có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Bà H (vắng mặt)
Địa chỉ: Số X đường M, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án người đại diện tham gia tố tụng theo ủy quyền của nguyên đơn là ông T trình bày có nội dung như sau:
Ngày 24/3/2020, bà H có ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và các phụ lục điều khoản, điều kiện phát hành, sử dụng thẻ tín dụng cá nhân tại Ngân hàng S. Căn cứ theo thu nhập của bà H, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số thẻ A với mức lãi suất 2,6%/tháng.
Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà H đã thực hiện các giao dịch với số tiền gốc là: 174.785.418 đồng. Số tiền vay của bà H đã được chuyển nợ quá hạn vào ngày 22/07/2022. Quá trình vay bà H đã thanh toán được 159.191.800 đồng (bao gồm một phần tiền nợ gốc, tiền lãi và các loại phí khác). Mặc dù Ngân hàng đã gửi thông báo, nhắc nhở, đôn đốc bà H thanh toán nợ, nhưng bà H không có thiện chí trả nợ.
Bà H đã vi phạm trách nhiệm thanh toán của chủ thẻ quy định tại Điều 20 của phụ lục điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng S. Sau khi quá hạn, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của chủ thẻ và dư nợ còn thiếu đã chuyển nợ quá hạn. Đồng thời Ngân hàng đã nộp đơn khởi kiện bà H đến Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột để thu hồi nợ.
Tính đến ngày 11/5/2023, dư nợ của bà H tại Ngân hàng như sau:
- Nợ gốc: 35.510.124 đồng.
- Nợ lãi: 13.479.596 đồng.
- Tổng cộng: 48.989.720 đồng.
Ngân hàng S khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà H thanh toán cho Ngân hàng số nợ nêu trên, và tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng cho đến khi thanh toán hết nợ tại Ngân hàng.
2. Đối với bị đơn bà H, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập bà H, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ nhiều lần theo quy định của pháp luật, nhưng bà H không đến Tòa án để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên không có ý kiến trình bày. Vì vậy, Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
3. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột phát biểu quan điểm như sau:
- Về tố tụng: Quá trình điều tra, thu thập chứng cứ của vụ án từ khi thụ lý đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã giải quyết đúng trình tự của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đã thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, Điều 71 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng S. Tuyên buộc bà H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền 35.510.124 đồng tiền gốc và tiền lãi suất tính đến ngày xét xử sơ thẩm. Về án phí: Bị đơn bà H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn Ngân hàng S có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn bà H, cư trú tại số X đường M, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk có nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng. Đây là vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về trình tự, thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa hôm nay, người đại diện tham gia tố tụng theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn bà H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do lần thứ hai, nên Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tiến hành xét xử vắng mặt các bên đương sự là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về nội dung vụ án:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định: Ngày 24/3/2020, bà H có ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và các phụ lục điều khoản, điều kiện phát hành, sử dụng thẻ tín dụng cá nhân tại Ngân hàng S). Biện pháp bảo đảm theo hình thức tín chấp. Hợp đồng được ký kết trên cơ sở thỏa thuận tự nguyện của các bên, không bị lừa dối, không trái pháp luật và đạo đức xã hội.
Căn cứ vào thu nhập của bà H, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng, số thẻ A, với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà H đã thực hiện các giao dịch với số tiền gốc là: 174.785.418 đồng. Từ khi được kích hoạt thẻ cho đến nay, bà H mới thanh toán cho Ngân hàng được số tiền là 159.191.800 đồng. Số tiền này bao gồm cả gốc, lãi và phí theo thỏa thuận giữa hai bên. Số tiền vay của bà H đã được chuyển nợ quá hạn vào ngày 22/07/2022. Như vậy, bà H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại Điều 20 của phụ lục điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng S, vi phạm hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết.
Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S, buộc bà H phải trả toàn bộ nợ gốc, nợ lãi còn thiếu theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, và tiếp tục chịu lãi phát sinh theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với Ngân hàng S cho đến khi trả xong nợ vay là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, nên cần được chấp nhận.
. Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, cụ thể: 48.989.720 x 5% = 2.449.486 đồng án phí DSST.
Hoàn trả cho Ngân hàng S số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 90, Điều 91, Điều 95 và Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng;
Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH4, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S.
Buộc bà H có trách nhiệm trả cho Ngân hàng S tổng số tiền (tính đến ngày 11/5/2023) là 48.989.720 đồng (Bốn mươi tám triệu, chín trăm tám mươi chín nghìn, bảy trăm hai mươi đồng).
Trong đó tiền nợ gốc là 35.510.124 đồng (Ba mươi lăm triệu,năm trăm mười nghìn, một trăm hai mươi tư đồng); và tiền nợ lãi là 13.479.596 đồng (Mười ba triệu, bốn trăm bảy mươi chín nghìn, năm trăm chín mươi sáu đồng).
Kể từ ngày 12/5/2023 bà H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và các phụ lục điều khoản, điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng S, cho đến khi thanh toán hết nợ tại Ngân hàng S.
2. Về án phí:
Bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.449.486 đồng (Hai triệu, bốn trăm bốn mươi chín nghìn, bốn trăm tám mươi sáu đồng).
Ngân hàng S được nhận lại số tiền 989.000 đồng (Chín trăm tám mươi chín nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0022670 ngày 18/11/2022.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
“Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.
| Nơi nhận: -P. NVKT&THA tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lăk; - VKSND TP.BMT; - CCTHADS TP.BMT; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Duy Dương |