- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái Ngọc T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2022/HSST Ngày: 11/5/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Minh Thu;
Các hội thẩm nhân dân: Ông Dương Minh Tuấn
Bà Trần Thu Phương
Thư ký phiên tòa: Bà Lg Thị Ngọc Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 11/5/2022, tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 78/2022/HSST ngày 13 tháng 4 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2022/HSST ngày 26 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Thái Ngọc T; Sinh năm 1993; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nm; HKTT: Xóm 11, xã K, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nm; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên bố: Nguyễn H; Sinh năm 1958; Họ và tên mẹ: Lê Thị M; Sinh năm 1961; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Họ và tên vợ: Nguyễn Thảo Ngọc; Sinh năm 1994 (đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 2015.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 09/12/2015, Công an phường Bến Thủy, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt hành chính về hành vi Đánh bạc. Bị cáo đã nộp phạt.
Danh chỉ bản số 558 do Công an quận Bắc Từ Liêm lập ngày 13/12/2021.
Bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/12/2021 đến Ny. Hiện đang tạm giam tại Trại giam số I - Công an TP Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
1. Chị Trần Thị N, sinh năm 1977; Địa chỉ: 503B, B8 Tô Hiệu, phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa - Có đơn xin vắng mặt.
2. Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1994; HKTT: Thôn Thọ Tiến, xã Xuân Vinh, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa; Hiện trú tại: Số 16 ngách 34/24 ngõ 34 Phú Đô, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.
3. Chị Phạm Thị Hải Y, sinh năm 1976; HKTT và trú tại: Số 26 ngõ 5 Nguyễn Viết Xuân, phường Quang Trung, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa - Có đơn xin vắng mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Xuân X, sinh năm 1996; HKTT: Thôn D, xã Liên Hồng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.
2. Anh Trần Xuân L, sinh năm 2003; HKTT: Thôn D, xã Liên Hồng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 07/11/2021, chị Trần Thị N (SN 1977; HKTT: 503B, B8 Tô Hiệu, phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội) đến Công an phường Xuân Tảo trình báo về việc khoảng 17 giờ cùng ngày, chị N bị một người đi xe máy cướp giật 01 túi xách bên trong chứa 01 điện thoại di động Samsung Galaxy Note 20 và 5.300.000 đồng tiền mặt tại vòng xuY đường Nguyễn Văn Huyên, phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội rồi bỏ chạy.
Quá trình điều tra xác định: Nguyễn Thái Ngọc T là người thực hiện hành vi cướp giật tài sản của chị Trần Thị N và 02 vụ cướp giật điện thoại khác tại phường Phú Đô và phường Mỹ Đình 1, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Sau đó, T mang điện thoại đi bán tại cửa hàng “Bệnh viện điện thoại” số 118 Trần Cung, Cổ Nhuế 1, Bắc Từ Liêm, Hà Nội cho anh Nguyễn Xuân X (SN 1996; HKTT: Thôn D, xã Liên Hồng, huyện Đan Phượng, TP Hà Nội) và anh Trần Xuân L (SN 2003; HKTT: Thôn D, xã Liên Hồng, huyện Đan Phượng, TP Hà Nội).
Ngày 09/12/2021, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Bắc Từ Liêm đã ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Thái Ngọc T.
Vật chứng thu giữ:
Thu giữ của Nguyễn Thái Ngọc T:
- 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đen lắp số IMEI 355345085605749, lắp số sim xxxxxxxxxx dung lượng 32Gb;
- 01 điện thoại Xiaomi Redmi màu đen (khóa màn hình không xác định được IMEI);
- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Airblace màu đen đỏ BKS 37B2-840.54, số khung 868591, số máy 1294508 đã qua sử dụng;
- 01 mũ bảo hiểm kiểu dáng mũ lưỡi trai màu đen, có kẻ sọc trắng đã qua sử dụng;
- 01 áo khoác giả da màu đen dài tay có kẻ sọc trắng đã qua sử dụng;
- 01 quần dài màu đen bằng nỉ đã qua sử dụng.
Thu giữ của Nguyễn Xuân X:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Note 20 màu xanh lắp số sim xxxxxxxxxx, số IMEI 1: 350247875083399, số IMEI 2: 353791665083397.
Thu giữ của Nguyễn Xuân L:
- 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone XS màu vàng đã qua sử dụng.
Ngày 09/12/2021, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Bắc Từ Liêm có yêu cầu định giá số 182 đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Bắc Từ Liêm định giá điện thoại mà Nguyễn Thái Ngọc T cướp giật được.
Kết luận định giá tài sản số 494 ngày 31/12/2021 của của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự hình sự quận Bắc Từ Liêm kết luận:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 20 màu xanh, số IMEI 350247875083399, 353791665083397 trị giá 8.000.000 đồng;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi màu đen 128GB, số IMEI 862774054612574, 862774054612582 trị giá 3.500.000 đồng;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu vàng 64GB, số IMEI 357230094324953, 357230097274676 trị giá 5.500.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định:
Do không có việc làm ổn định, cần tiền tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Thái Ngọc T đã nảy sinh ý định cướp giật tài sản. T sử dụng xe máy Honda Airblace màu đỏ đen BKS 37B2-840.54 để đi cướp giật tài sản (khi đi cướp giật T tháo BKS để trong cốp xe). Từ đầu tháng 11 đến ngày 08/12/2021, Nguyễn Thái Ngọc T đã thực hiện 03 vụ cướp giật tài sản, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Khoảng 17 giờ ngày 07/11/2021, Nguyễn Thái Ngọc T điều khiển xe máy Honda Airblace không đeo biển kiểm soát đi đến khu ngoại giao đoàn, phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm tìm sơ hở để cướp giật tài sản. Khi đi đến vòng xuY giao giữa đường Nguyễn Văn Huyên giao với đường T10 thuộc phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội thì phát hiện chị Trần Thị N (có lý lịch như trên) và chị Lg Thị Nguyệt Quế (SN 1983; HKTT: 502B7 tập thể Nghĩa Tân, phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, TP Hà Nội) đi xe đạp song song với nhau, cùng chiều với T. T quan sát thấy chị N đi bên ngoài, trên người đeo túi xách màu đen nên T điều khiển xe vượt lên áp sát bên trái chị N rồi dùng tay phải giật chiếc túi xách rồi tăng ga bỏ chạy theo hướng đi đường
Võ Chí Công. Sau khi về nhà, T kiểm tra phát hiện trong túi xách có 01 điện thoại di động Samsung Galaxy Note 20 màu xanh, 01 chùm chìa khóa và 5.300.000 đồng tiền mặt nên T lấy tiền và điện thoại, còn chìa khóa và túi xách T mang ra bãi rác đầu ngõ 75 Trần Thái Tông, phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, TP Hà Nội vứt. T tháo sim điện thoại vứt dọc đường (không rõ vị trí cụ thể) rồi mang chiếc điện thoại cướp giật được đến cửa hàng “Bệnh viện điện thoại” số 118 Trần Cung, phường Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội bán cho anh Nguyễn Xuân X được 3.000.000 đồng. Do điện thoại không khóa màn hình nên anh Nguyễn Xuân X đã lắp số sim xxxxxxxxxx vào để sử dụng.
Vụ thứ hai: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 07/12/2021, T điều khiển xe máy Honda Airblace không lắp biển kiểm soát đi xung quanh khu vực sân vận động Mỹ Đình tìm xem ai sơ hở để cướp giật tài sản. Khi đi đến trước cửa quán cafe Aquarius đường Lê Đức Thọ, phường Mỹ Đình 1, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội thì phát hiện anh Nguyễn Minh Tuân (SN 1991; HKTT: Thôn Hòa Bình, Hồng Kỳ, Sóc Sơn, Hà Nội) điều khiển xe máy chở chị Nguyễn Thị B (SN 1994; HKTT: xã Trường Xuân, huyện Thọ Xuân, tỉnh B Hóa) ngồi phía sau đeo túi xách màu nâu nên T điều khiển xe máy từ phía sau lên áp sát bên phải xe của anh T rồi dùng tay trái giật túi xách mà chị B đang đeo trên người rồi tăng ga bỏ chạy theo hướng đi Hồ Tùng Mậu. Trong túi xách có 01 điện thoại di động Iphone XS màu vàng, 300.000 đồng tiền mặt và một số giấy tờ tùy thân của chị B, T lấy tiền và điện thoại, còn túi xách và giấy tờ tùy thân vứt ở bãi rác đầu ngõ 75 Trần Thái Tông, phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, TP Hà Nội. T tháo sim điện thoại vứt dọc đường (không rõ vị trí cụ thể) rồi mang chiếc điện thoại cướp giật được đến cửa hàng “Bệnh viện điện thoại” số 118 Trần Cung, phường Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội bán cho anh Nguyễn Xuân L (nhân viên cửa hàng) được 1.500.000 đồng.
Vụ thứ ba: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 08/12/2021, T điều khiển xe máy Honda Airblace không lắp biển kiểm soát đi xung quanh khu vực sân vận động Mỹ Đình tìm sơ hở để cướp giật tài sản. Khi đi đến đường Lê Quang Đạo hướng từ Mễ Trì đi Hồ Tùng Mậu, phường Phú Đô, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội thì T phát hiện chị Phạm Thị Hải Y (SN 1976; HKTT: số 26 ngõ 5 Nguyễn Viết Xuân, phường Quang Trung, quận Hà Đông, TP Hà Nội) đang đứng ở ven đường nghe điện thoại. T điều khiển xe từ phía sau lên áp sát rồi giật điện thoại nhãn hiệu Xiaomi Redmi màu đen trên tay chị Y và tăng ga bỏ chạy theo hướng Hồ Tùng Mậu. T tháo sim điện thoại vứt dọc đường (không rõ vị trí cụ thể) rồi tiếp tục mang điện thoại đến cửa hàng “Bệnh viện điện thoại” số 118 Trần Cung, phường Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội để bán thì bị
cơ quan công an phát hiện, thu giữ tang vật.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thái Ngọc T khai nhận hành vi của mình như trên và khai số tiền cướp giật được và tiền bán điện thoại T đã tiêu xài hết.
Đối với Nguyễn Xuân X là chủ cửa hàng và Nguyễn Xuân L là nhân viên cửa hàng “Bệnh viện điện thoại” tại số 118 Trần Cung, phường Cổ Nhuế 1, quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội. Quá trình điều tra xác định: Khi Nguyễn Thái Ngọc T đến bán điện thoại, T giới thiệu là làm cầm đồ, điện thoại của khách cầm cố nhưng không đến chuộc lại nên mới bán, X và L không biết điện thoại là tài sản do T phạm tội mà có. Do đó, cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.
Đối với điện thoại Samsung Galaxy Note 20 màu xanh lắp số sim xxxxxxxxxx: Quá trình điều tra xác định, điện thoại trên là của chị Trần Thị N, còn số sim xxxxxxxxxx là của anh Nguyễn Xuân X. Ngày 06/01/2022, cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm ra Quyết định xử lý vật chứng số 08 trả lại 01 điện thoại Samsung Galaxy Note 20 màu xanh cho chị Trần Thị N. Chị N đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì. Ngày 24/01/2022, cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm ra Quyết định xử lý vật chứng số 23 trao trả 01 sim điện thoại có số thuê bao xxxxxxxxxx cho anh Nguyễn Xuân X. Anh X đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì.
Đối với điện thoại di động Iphone XS màu vàng 64GB, số IMEI 357230094324953, 357230097274676. Quá trình điều tra xác định điện thoại trên của chị Nguyễn Thị B. Ngày 06/01/2022, cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm ra Quyết định xử lý vật chứng số 08 trả lại 01 điện thoại Iphone XS màu vàng cho chị Nguyễn Thị B. Chị B đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì.
Đối với điện thoại di động Xiaomi Redmi màu đen, số IMEI 862774054612574, 862774054612582. Quá trình điều tra xác định điện thoại trên của chị Phạm Thị Hải Y. Ngày 06/01/2022, cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm ra Quyết định xử lý vật chứng số 08 trả lại 01 điện thoại Iphone XS màu vàng cho chị Phạm Thị Hải Y. Chị Y đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì.
Đối với chiếc xe máy Honda Airblace màu đỏ đen BKS 37B2-840.54, số máy JF63E1294508, số khung RLHJF6306FZ868591, Nguyễn Thái Ngọc T khai mượn của vợ cũ là chị Nguyễn Thảo Ngọc để làm phương tiện đi lại, việc T sử dụng xe máy để đi cướp giật tài sản thì chị Ngọc không biết. Xác minh xe máy BKS 37B2-840.54, số máy JF63E1294508, số khung RLHJF6306FZ868591 tại Công an quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội xác định: Xe nhãn hiệu Hoda Airblace màu đen đỏ, người đứng tên đăng ký là Nguyễn Thảo Ngọc (SN 1994; HKTT: Khối 11 phường Cửa Nam, TP Vinh, tỉnh Nghệ An), tra cứu xe máy không có trong dữ liệu vật chứng, xe có số khung, số máy nguyên thủy. Ngày 14/01/2022, cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm ra Quyết định xử lý vật chứng số 23 trả lại xe máy BKS 37B2-840.54 cho chị Nguyễn Thảo Ngọc. Chị Ngọc đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì.
Đối với 02 chiếc túi xách của chị Trần Thị N và chị Nguyễn Thị B cùng một số giấy tờ tùy thân, chìa khóa, sim điện thoại: Quá trình điều tra không thu giữ được nên không định giá được. Chị N và chị B không có yêu cầu gì đối với những tài sản trên.
Đối với vật chứng 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đen lắp số sim xxxxxxxxxx, 01 mũ bảo hiểm kiểu dáng mũ lưỡi trai màu đen, 01 áo khoác giả da màu đen dài tay có kẻ sọc trắng, 01 quần dài màu đen bằng nỉ có liên quan đến hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra chuyển theo hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại Trần Thị N, Nguyễn Thị B, Phạm Thị Hải Y và người liên quan anh Nguyễn Xuân X, anh Nguyễn Xuân L không có yêu cầu bồi thường về dân sự.
Tại bản cáo trạng số: 81/CT-VKS ngày 07 tháng 4 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Thái Ngọc T về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo nhận thức là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quyết định như bản cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thái Ngọc T từ 04 năm đến 05 năm tù. Về dân sự: Không. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 mũ bảo hiểm kiểu dáng mũ lưỡi trai màu đen, có kẻ sọc trắng; 01 áo khoác giả da màu đen dài tay có kẻ sọc trắng; 01 quần dài màu đen bằng nỉ. Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đen lắp số IMEI 355345085605749, lắp số sim xxxxxxxxxx dung lượng 32GB. Về biện pháp tư pháp: Truy thu số tiền 10.100.000 đồng của bị cáo Nguyễn Thái Ngọc T sung quỹ Nhà nước. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án và phải nộp án phí theo quy định cua pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Qua nghiên cứu nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại, nên hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Trên cơ sở kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thái Ngọc T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên toà, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người liên quan, kết luận định giá, cùng các tài liệu chứng cứ khác.
Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên từ tháng 11/2021 đến ngày 08/12/2021, Nguyễn Thái Ngọc T dùng xe máy Honda Airblace không gắn biển kiểm soát thực hiện 03 vụ cướp giật tài sản, cụ thể:
Ngày 07/11/2021, Nguyễn Thái Ngọc T cướp giật 01 túi xách bên trong có 01 điện thoại di động Samsung Galaxy Note 20 màu xanh trị giá 8.000.000 đồng và 5.300.000 đồng tiền mặt của chị Trần Thị N tại đường Nguyễn Văn Huyên giao với đường T10 thuộc phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
Ngày 07/12/2021, T cướp giật 01 túi xách bên trong có 01 điện thoại di động Iphone XS màu vàng trị giá 5.500.000 đồng và 300.000 đồng tiền mặt của chị Nguyễn Thị B tại đường Lê Đức Thọ, phường Mỹ Đình 1, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
Ngày 08/12/2021, T cướp giật 01 điện thoại di động Xiaomi Redmi màu đen trị giá 3.500.000 đồng của chị Phạm Thị Hải Y tại đường Lê Quang Đạo hướng từ Mễ Trì đi Hồ Tùng Mậu, phường Phú Đô, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện bắt giữ.
Tổng giá trị tài sản T cướp giật được là 22.600.000 đồng, T hưởng lợi 10.100.000 đồng. Các tài sản đã được thu hồi trao trả cho chủ sở hữu, họ đều không có yêu cầu bồi thường về dân sự.
Bị cáo dùng xe máy để nhanh chóng chiếm đoạt tài sản của chị N, chị B và chị Y nên hành vi của bị cáo đã phạm tội Cướp giật tài sản theo Điều 171 Bộ luật hình sự. Do bị cáo đi xe máy (dùng thủ đoạn nguy hiểm) để thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu tình tiết định khung tăng nặng và chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.
Do đó cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.
. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự xã hội và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo để cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét: Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại là chị Trần Thị N, chị Nguyễn Thị B, chị Phạm Thị Hải Y và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Xuân X, anh Trần Xuân L đã nhận lại tài sản và đều không yêu cầu bồi thường dân sự nên hội đồng xét xử không xem xét.
. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- 01 mũ bảo hiểm kiểu dáng mũ lưỡi trai màu đen, có kẻ sọc trắng đã qua sử dụng; 01 áo khoác giả da màu đen dài tay có kẻ sọc trắng đã qua sử dụng; 01 quần dài màu đen bằng nỉ đã qua sử dụng không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy
- 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đen lắp số IMEI 355345085605749, lắp số sim xxxxxxxxxx dung lượng 32GB là tài sản của bị cáo, không dùng vào việc phạm tội, trả lại bị cáo Nguyễn Thái Ngọc T.
- Truy thu số tiền 10.100.000đồng thu lời bất chính của bị cáo Nguyễn Thái Ngọc T để sung quỹ Nhà nước.
. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người liên quan được quyền kháng cáo; bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thái Ngọc T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
2. Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt Nguyễn Thái Ngọc T 48 (Bốn mươi tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/12/2021.
3. Về trách nhiệm dân sự: không có.
4. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- Tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm kiểu dáng mũ lưỡi trai màu đen, có kẻ sọc trắng đã qua sử dụng; 01 áo khoác giả da màu đen dài tay, có kẻ sọc trắng đã qua sử dụng; 01 quần dài màu đen bằng nỉ đã qua sử dụng.
- Trả lại bị cáo Nguyễn Thái Ngọc T 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu đen, lắp số IMEI 355345085605749, lắp số sim xxxxxxxxxx dung lượng 32GB đã qua sử dụng. Tại thời điểm bàn giao số thuê bao không hoạt động.
- Truy thu số tiền 10.100.000đ (Mười triệu, một trăm nghìn đồng) thu lời bất chính của bị cáo Nguyễn Thái Ngọc T để sung quỹ Nhà nước.
(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 118/22 ngày 12/4/2022 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm).
5. Về án phí và quyền kháng cáo:
- Bị cáo Nguyễn Thái Ngọc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án; Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; Bị hại; Người liên quan; - VKSND Q. BắcTừ Liêm; - VKSND TP. Hà Nội; - TAND TP. Hà Nội; - Công an Q.Bắc Từ Liêm; - Chi cục Thi hành án Q.Bắc Từ Liêm; - Lưu Hồ sơ, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Minh Thu |