- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quách Văn T phạm tội vi phạm quy định về xuất cảnh, nhập cảnh - phạm tội vi phạm quy định về xuất cảnh, nhập cảnh; tội ở lại Việt Nam trái p…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Quách Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về xuất cảnh, nhập cảnh”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2022/HSST Ngày: 15 - 12 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lưu Đình Tâm
2. Ông Đặng Văn Thuận
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành tham gia phiên toà: Ông Đoàn Văn Tuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 64/2022/HSST ngày 21 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Quách Văn T; sinh ngày 26/10/1991; tại: Xã M, huyện T, tỉnh Thanh Hoá; nơi ĐKHKTT: Thôn S, xã M, huyện T, tỉnh Thanh Hoá; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 11/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Quách Văn T (Đã chết) và bà Bùi Thị H; họ tên vợ: Trương Thị M; có 01 con là Quách Thị Anh T, sinh năm 2014; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 24/12/2020 bị Công an huyện Thạch Thành xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Qua lại biên giới quốc gia không làm thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh theo quy định”;Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/8/2022 cho đến nay; Có mặt tại phiên tòa;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 11 năm 2018, Quách Văn T đang làm thợ cơ khí tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh nhưng do thu nhập thấp nên muốn tìm công việc khác. Tình cờ, T gặp một người thanh niên tại bến xe Ka Long, qua trò chuyện người thanh niên này nói có thể đưa T sang Trung Quốc để làm việc với chi phí là 5.000.000đ (Năm triệu đồng), T đồng ý. Sau đó T được người thanh niên này đưa đi bằng tàu qua sông Ka Long để xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc và làm việc tại việc tại xưởng làm băng dính, đến tháng 10 năm 2020 thì T nhập cảnh trái phép về Việt Nam. Ngày 24/12/2020, T bị Công an huyện Thạch Thành xử phạt hành chính với số tiền 4.000.000đ (Bốn triệu đồng) về hành vi “Qua lại biên giới quốc gia không làm thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh theo quy định”.
Đến tháng 3 năm 2021, T tiếp tục có ý định sang Trung Quốc để lao động nên đã lên mạng xã hội để tìm kiếm người có thể đưa mình sang Trung Quốc. Qua tìm kiếm, T tìm thấy tài khoản tên là “Nhà xe T Anh” thường xuyên đăng tải bài viết về việc có thể đưa người sang Trung Quốc kèm theo số điện thoại “19820383263” nên T đã kết bạn với người có số điện thoại trên qua ứng dụng Wechat. Qua trao đổi, T được người sử dụng số điện thoại này giới thiệu có thể đưa người sang Trung Quốc để làm việc và chi phí hết 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) với điều kiện T phải tự di chuyển đến thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, T đồng ý. Sau đó vài ngày, T bắt xe khách từ huyện Thạch Thành đến thành phố Cao Bằng. Tại đây, T được 01 người đàn ông lạ mặt đón lên một chiếc xe oto bốn chỗ cùng với hai người khác rồi di chuyển từ thành phố Cao Bằng đến biên giới Việt Nam – Trung Quốc thuộc huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Sau khi xuống xe tại khu vực biên giới, T và hai người đi cùng được một người Việt Nam đón và thu số tiền là 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) rồi dẫn cả ba người theo đường mòn biên giới để nhập cảnh trái phép sang Trung Quốc. Khi sang Trung Quốc, T và hai người đi cùng được một người Trung Quốc đón và chở đến tỉnh Quảng Đông và làm việc tại xưởng băng dính, còn hai người đi cùng làm việc ở đâu thì T không biết.
Đến tháng 5 năm 2022, do tình hình dịch bệnh tại Trung Quốc bùng phát nên T có nhu cầu về nước. T tiếp tục vào mạng xã hội Wechat để liện hệ với người dùng số điện thoại “19820383263” nhờ người này đưa về Việt Nam. Sau khi thỏa thuận, T đồng ý trả cho người này số tiền là 600 nhân dân tệ (tương ứng với khoảng 20.000.000đ tiền Việt Nam) để được người này đưa về Việt Nam. Ngày 02/5/2022, có một người Trung Quốc đến xưởng sản xuất nơi T làm việc để đón T về Việt Nam, trên đường đi, người này đón thêm ba người khác về Việt Nam. Khi đến khu vực biên giới, người Trung Quốc thả T và ba người đi cùng xuống và hướng dẫn đi theo định vị điện thoại để về Việt Nam. Khi đi được khoảng 1 giờ đồng hồ thì T và ba người đi cùng bị công an Trung Quốc phát hiện, bắt giữ vì không có giấy tờ tùy thân và bị giam khoảng hai tháng. Ngày 05/7/2022, T được phía Trung Quốc đẩy đuổi về Việt Nam qua cửa khẩu Sóc Giang thuộc huyện Hà Quảng tình Cao Bằng, sau đó T trở về địa phương. Đến ngày 15/8/2022, T đến công an huyện Thạch Thành đầu thú về hành vi phạm tội của bản thân.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Quách Văn T đã thừa toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Vật chứng của vụ án gồm 01 điện thoại di động thu giữ của Quách Văn T hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Thành chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 63/CT-VKS-P1, ngày 20/10/2022, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá đã truy tố Quách Văn T về tội “Vi phạm quy định về xuất cảnh, nhập cảnh” theo Điều 347 Bộ Luật hình sự (Sau đây được viết tắt là BLHS).
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng Điều 347; điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS để xử phạt Quách Văn T từ 15 tháng đến 18 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng điều 47 BLHS, điều 106 BLTTHS tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại của bị cáo Quách Văn T, điện thoại nhãn hiệu VIVO, điện thoại cũ đã qua sử dụng, có số MEID: A00000852491D6, IMEI 1: 869933038278299, số IMEI 2: 869933038278281.
Trong phần tranh tụng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Trong lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Thanh Hóa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội: Vào thời gian từ tháng 11 năm 2018 đến tháng 5 năm 2022, Quách Văn T đã 02 lần xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc để lao động nhưng không làm thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh theo quy định của pháp luật. Trong đó, lần đầu khi trở về Việt Nam, Quách Văn T đã bị công an huyện Thạch Thành xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Qua lại biên giới quốc gia không làm thủ tục xuất cảnh, nhập cảnh theo quy định” với số tiền là 4.000.000đ (Bốn triệu đồng), T đã nộp phạt vào ngày 24/12/2020 nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính thì đến tháng 3 năm 2021, T lại tiếp tục xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc và đến tháng 5 năm 2022, T nhập cảnh trái phép về Việt Nam. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luật, hành vi của Quách Văn T đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về xuất cảnh, nhập cảnh” theo quy định tại Điều 347 BLHS.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng và có 03 tình tiết giảm nhẹ là “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “Đầu thú”. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
. Về tính chất của vụ án: Đây là vụ án hình sự có tính chất ít nghiêm trọng do Quách Văn T thực hiện. Tuy nhiên hành vi của T đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nước trong lĩnh vực xuất nhập cảnh. Đặc biệt, trong khi cả hệ thống chính trị và toàn dân đang đồng tâm hiệp lực để phòng chống dịch bệnh Covid 19 thì bị cáo lại vi phạm quy định về xuất nhập cảnh, khi ở nước ngoài dịch bệnh căng thẳng bị cáo lại nhập cảnh trái phép vào Việt Nam làm nguy cơ lây lan dịch bệnh rất cao. Điều này thể hiện sự thiếu ý thức trong việc chấp hành các quy định về phòng chống dịch bệnh đang diễn biến phức tạp cũng như trong việc chấp hành các quy định của pháp luật. Do đó, cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian để sửa chữa lỗi lầm.
. Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo 01 chiếc điện thoại di động. Đây là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội do đó cần áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự, điều 106 bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại của bị cáo Quách Văn T, điện thoại nhãn hiệu VIVO, điện thoại cũ đã qua sử dụng, có số MEID: A00000852491D6, IMEI 1: 869933038278299, số IMEI 2: 869933038278281.
. Bị cáo là thành viên của hộ gia đình là hộ nghèo, bản thân bị cáo cũng đề nghị được miễn án phí HSST, do đó miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo là đúng quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Quách Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về xuất cảnh, nhập cảnh”
Áp dụng Điều 347; điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt Quách Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (Ngày 16/8/2022).
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động màu đen, mặt sau điện thoại có dòng chữ VIVO, điện thoại cũ đã qua sử dụng, có số MEID: A00000852491D6, IMEI 1: 869933038278299, số IMEI 2: 869933038278281. Vật chứng hiện được lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa, theo biên bản giao nhật vật chứng, tài sản giữa cơ quan an ninh điều tra công an tỉnh Thanh Hóa và chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Thành ngày 21/10/2022.
Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quách Văn T
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo Quách Văn T. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Thạch Thành; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Cơ quan CSĐT CA huyện Thạch Thành; - Cơ quan THAHS CA huyện Thạch Thành; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Bùi Văn Hải |