- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lý Anh T phạm tội "Trộm cắp tài sản". - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lý Anh T phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2022/HS-ST Ngày: 14/7/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Mai
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hòa
2. Ông Luân Văn Lý
Thư ký phiên tòa: Bà Bàng Thị Minh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2022/HSST ngày 26 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2022/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2022 và Thông báo hoãn phiên tòa số: 345/TB-TA ngày 05 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đối với bị cáo:
Họ và tên: Lý Anh T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 12/12/1982 tại thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Hộ khẩu thường trú: tổ 10, phường S, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Chỗ ở hiện nay: tổ 07, phường H, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 08/12 phổ thông; Con ông: Lý Văn T - sinh năm 1958 (hộ khẩu thường trú: tổ 10, phường S, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng); Con bà: Tạ Thị R (đã chết); Anh, chị, em ruột: Bị cáo là con cả trong gia đình có 03 anh em; Vợ: Hoàng Thị H - sinh năm 1981 (hộ khẩu thường trú: tổ 10, phường S, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; chỗ ở hiện nay: tổ 07, phường H, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng); Con: bị cáo có 01 con, sinh năm 2010.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 07/7/2021, Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản.
Nhân thân:
- Năm 1999 Uỷ ban nhân dân tỉnh Cao Bằng ra Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.
- Ngày 30/9/2014 Công an phường Hợp Giang, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản.
- Ngày 10/10/2017 Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/02/2022 đến ngày 03/3/2022. Từ ngày 03/3/2022 đến nay thay thế biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú bằng biện pháp tạm giam. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
1. Công ty cổ phần – Tổng công ty Đầu tư hạ tầng V
Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Anh S – Giám đốc
Đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Trung H – Chỉ huy trưởng Gói thầu 09 thi công kè bờ trái sông H, thành phố Cao Bằng.
HKTT: SN 18, ngõ 9, phường P, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
Chỗ ở hiện nay: Tổ 5, phường S, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.
2. Ông Nguyễn Chí T
HKTT: xã Quế Phú, huyện Q, tỉnh Quảng Nam.
Chỗ ở hiện nay: SN 116 Bế Văn Đàn, tổ 3, phường H, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Nguyễn Thị H
HKTT: thôn Như Nguyệt, xã T, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
Chỗ ở hiện nay: tổ 06, phường N, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.
2. Trần Thị T
Trú tại: tổ 11, phường S, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.
3. Hoàng Thị H
HKTT: tổ 10, phường S, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Chỗ ở hiện nay: tổ 07, phường H, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 11/11/2021, Công an phường Hợp Giang, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng nhận được đơn tố giác của Đỗ Trung H (sinh năm 1990; trú tại: tổ 09, phường S, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng) về việc bị mất trộm 20 mét dây cáp nhôm vặn xoắn 03 ruột – A/XLPE 0,6/KV CADI- PHÚ NGHĨA, loại ABC 3 x35, kết cấu ruột dẫn gồm 07 sợi là tài sản của Công ty cổ phần - Tổng Công ty Đầu tư hạ tầng V đang được dùng để thi công bờ kè trái S, thành phố Cao Bằng. Qua điều tra đã xác định được đối tượng thực hiện vụ trộm cắp tài sản trên là Lý Anh T (sinh năm 1982; HKTT: tổ 10, phường S, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Chỗ ở hiện nay: tổ 07, phường H, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng).
Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng 00 giờ 30 phút, ngày 10/11/2021 T một mình đi đến khu vực bờ kè trái S thuộc tổ 10, phường S, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng thấy một số đoạn dây cáp điện để dọc theo chân bờ kè nên đã nảy sinh ý định trộm cắp. T đi đến cầu thang lên xuống bờ sông, đối diện nhà văn hóa tổ 10, phường S, thành phố Cao Bằng. Quan sát không thấy có người, T lấy 01 (một) đoạn dây cáp điện ở chân cầu thang và thấy cách vị trí đoạn cáp điện T vừa lấy 17,05 (mười bảy phảy không năm) mét có 01 (một) dây cáp điện, một đầu ở dưới đất, một đầu nối với dây từ trên bờ kè xuống. T dùng tay bẻ đoạn nối của dây cáp điện, rồi mang 02 (hai) đoạn dây có tổng chiều dài khoảng 20 (hai mươi) mét vừa trộm được đến cầu thang lên xuống bờ sông Bằng Giang thuộc tổ 08, phường H, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đốt lấy lõi nhôm rồi mang về nhà cất. Đến khoảng 06 giờ cùng ngày, T mang số lõi nhôm trên đến bán cho bà Trần Thị T (sinh năm 1956; trú tại: tổ 11, phường S, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng) tại điểm thu mua phế liệu tại tổ 11, phường S, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng được 120.000 (một trăm hai mươi nghìn) đồng. Sau đó, T dùng 100.000 (một trăm nghìn) đồng đi mua heroine với một người đàn ông không quen biết tại khu vực vòng xuyến S; 5.000 (năm nghìn) đồng mua bơm kim tiêm rồi đi đến gầm cầu N để sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy xong T dùng 15.000 (mười lăm nghìn) đồng còn lại để mua xôi ăn rồi đi về nhà ngủ.
Ngày 08/12/2021 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng đã ra yêu cầu định giá tài sản số 292 yêu cầu xác định giá trị tài sản T trộm cắp được. Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 76/KL-TCKH ngày 15/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cao Bằng kết luận giá trị tài sản trên là 424.800 (bốn trăm hai mươi bốn nghìn tám trăm) đồng.
Trong thời gian thu thập, tài liệu để xác định Lý Văn T (sinh ngày 12/12/1982) và Lý Anh T (sinh ngày 12/12/1982) là cùng một người thì Lý Anh T lại tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể: Khoảng 01 giờ ngày 21/01/2022, T cầm theo 01 (một) con dao nhỏ từ nhà đi với mục đích cắt trộm dây cáp điện để bán phế liệu lấy tiền. T đi đến khu vực nhà văn hóa tổ 08, phường H, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Quan sát xung quanh thấy không có người, T dùng dao cắt 15 (mười lăm) mét dây cáp nhôm vặn xoán Cadisum ABC 4x95 của Nguyễn Chí T (sinh năm 1976; trú tại: tổ 03, phường H, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng) đang sử dụng để thi công bờ kè S, thành phố Cao Bằng rồi kéo về bãi đất bồi bờ sông Bằng Giang thuộc tổ 08, phường H, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đốt lấy lõi nhôm rồi cho vào bao tải trắng đem về nhà. Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, T sử dụng xe đạp chở số lõi nhôm trên đến bán cho bà Nguyễn Thị H (sinh năm 1976; chỗ ở hiện nay: tổ 06, phường N, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng) tại điểm thu mua phế liệu tại tổ 06, phường N, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng được 312.000 (ba trăm mười hai nghìn) đồng. Sau đó, T dùng số tiền này đi mua heroine với một người không quen biết và thuốc lá để sử dụng.
Ngày 23/02/2022, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng đã ra yêu cầu định giá tài sản số 53 yêu cầu xác định giá trị tài sản T trộm cắp ngày 21/01/2022. Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 09/KL-TCKH ngày 02/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cao Bằng kết luận 15 (mười lăm) mét dây cáp nhôm vặn xoắn Cadisum ABC 4x95 có giá trị tài sản là 1.567.992 (một triệu năm trăm sáu mươi bảy nghìn chín trăm chín mươi hai) đồng.
Ngoài ra, Lý Anh T còn khai nhận vào khoảng 23 giờ ngày 18/01/2022, cũng tại vị trí với nơi T thực hiện hành vi trộm cắp vào ngày 21/01/2022, T đã cắt trộm được khoảng 15 (mười lăm) mét dây cáp điện và khoảng 06 giờ sáng ngày 19/01/2022 T đã bán cho một người phụ nữ không quen biết được 100.000 (một trăm nghìn) đồng. Tuy nhiên, quá trình điều tra đã không xác định được T đã bán đoạn dây điện cho ai và bị hại Nguyễn Chí T cũng không xác định được đoạn dây cáp điện đã mất vào ngày 18/01/2022.
Hành vi của Lý Anh T đã bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy tố trước pháp luật về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại bản Cáo trạng số: 49/CT-VKSTP ngày 26/5/2022 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Lý Anh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, bị cáo Lý Anh T thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhất trí, không có ý kiến hay khiếu nại với bản kết luận định giá tài sản số: 76/KL-TCKH ngày 15/12/2021 và số: 09/KL-TCKH ngày 02/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cao Bằng. Số tiền 432.000 (bốn trăm ba mươi hai nghìn) đồng bán tài sản trộm cắp được bị cáo đã tiêu xài hết. Con dao màu đen, cán gỗ là của bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội. Chiếc xe đạp màu xanh do vợ bị cáo mua cho con gái bị cáo đi học. Bị cáo đề nghị được trả lại chiếc xe đạp đó, còn con dao và số sợi kim loại màu trắng bạc bị thu giữ bị cáo không có ý kiến gì.
Lời khai của Đỗ Trung H - đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần – Tổng công ty Đầu tư hạ tầng V tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa liên quan đến tài sản bị trộm cắp. Tại phiên tòa, ông H vắng mặt nhưng trong đơn xin xét xử vắng mặt ông H không yêu cầu bị cáo bồi thường. Về trách nhiệm hình sự, đề nghị xét xử theo quy định của pháp luật.
Lời khai của bị hại Nguyễn Chí T tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa liên quan đến tài sản bị trộm cắp. Tại phiên tòa, ông T vắng mặt nhưng trong đơn xin xét xử vắng mặt ông T không yêu cầu bị cáo bồi thường. Về trách nhiệm hình sự, đề nghị xét xử theo quy định của pháp luật.
Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị H tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo liên quan đến tài sản bị cáo mang đến cơ sở thu mua phế liệu bán cho bà H. Tại phiên tòa, bà H vắng mặt nhưng trong đơn xin xét xử vắng mặt bà H không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị T tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo liên quan đến tài sản bị cáo mang đến cơ sở thu mua phế liệu bán cho bà T. Tại phiên tòa, bà T vắng mặt nhưng trong đơn xin xét xử vắng mặt bà T không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hoàng Thị H tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo liên quan đến chiếc xe đạp. Tại phiên tòa, bà H vắng mặt nhưng trong đơn xin xét xử vắng mặt bà H đề nghị được nhận lại chiếc xe đạp.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng rút một phần quyết định truy tố đối với bị cáo, cụ thể: rút tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” nhằm áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tuyên bố bị cáo Lý Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo Lý Anh T từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: không đặt ra xem xét, giải quyết do bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị:
- Trả lại 03kg các đoạn sợi kim loại màu trắng bạc đã qua sử dụng cho Công ty cổ phần – Tổng công ty Đầu tư hạ tầng Việt Nam do còn giá trị sử dụng.
- Trả lại 12kg các sợi kim loại màu trắng bạc đã qua sử dụng cho ông Nguyễn Chí T do còn giá trị sử dụng.
- Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hoàng Thị H 01 (một) xe đạp màu xanh, phần khung xe có chữ Việt Nhật, xe cũ đã qua sử dụng.
- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) con dao màu đen, cán gỗ dài 10,5cm; lưỡi dao dài 12,5cm; phần lưỡi dao đã bị biến dạng, dao cũ đã qua sử dụng.
- Tịch thu, sung công quỹ nhà nước số tiền 432.000 (bốn trăm ba mươi hai nghìn) đồng do bị cáo phạm tội mà có.
Về án phí: Áp dụng nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước.
Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng.
Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về các hành vi và quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về tội danh: Tại cơ quan điều tra cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung đơn trình báo; lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; bản kết luận định giá tài sản; vật chứng cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: Do bản thân sử dụng ma túy và để có tiền phục vụ nhu cầu sinh hoạt của bản thân, Lý Anh T đã 02 (hai) lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại khu vực thành phố Cao Bằng. Lần thứ nhất vào ngày 10/11/2021 với giá trị tài sản chiếm đoạt là 424.800 (bốn trăm hai mươi bốn nghìn tám trăm) đồng. Lần thứ hai vào ngày 21/01/2022 với giá trị tài sản chiếm đoạt là 1.567.992 (một triệu năm trăm sáu mươi bảy nghìn chín trăm chín mươi hai) đồng. Trước đó, ngày 07/7/2021 Lý Anh T đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, chưa đủ thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính nên phải chịu trách nhiệm hình sự.
Lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác về tài sản được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Mục đích của bị cáo khi thực hiện hành vi trộm cắp là lấy tài sản mang đi bán có tiền mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Lý Anh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 173 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm
a) ...”.
. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo là người nghiện ma túy và là người có nhân thân xấu. Bị cáo đã bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc; bị xử phạt hành chính liên quan đến hành vi xâm phạm quyền sở hữu và ma túy. Bị cáo đã được nhắc nhở nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Về hình phạt chính:
Trong vụ án này, giá trị tài sản bị cáo T thực hiện hành vi trộm cắp ngày 10/11/2021 là 424.800 (bốn trăm hai mươi bốn nghìn tám trăm) đồng cùng với tiền sự ngày 07/7/2021 về hành vi trộm cắp tài sản mà chưa đủ thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Trong khi chờ thực hiện việc xác minh nhân thân, bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 21/01/2022. Hiện nay, chưa có quy định tiền sự được áp dụng bao nhiêu lần để làm tình tiết định tội. Để áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo, cần tính tổng giá trị tài sản các lần phạm tội của bị cáo để làm căn cứ trong việc quyết định hình phạt. Tuy nhiên, trong vụ án này cần xác định bị cáo T là người coi thường tính nghiêm minh của pháp luật bởi khi được tại ngoại để điều tra đối với hành vi trộm cắp tài sản ngày 10/11/2021 thì bị cáo lại tiếp tục có hành vi trộm cắp vào ngày 21/01/2022, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Căn cứ vào nhân thân của bị cáo; tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi bị cáo gây ra và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo T là đối tượng nghiện ma túy, không thể tự cải tạo, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ để cải tạo giáo dục riêng cũng như phòng ngừa chung trong xã hội. Mức đề nghị hình phạt của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đối với bị cáo là hoàn toàn phù hợp nên được chấp nhận.
. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng…”. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự:
Các bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
. Về xử lý vật chứng:
- Đối với số sợi kim loại màu trắng bạc: Tại đơn xin xét xử vắng mặt, các bị hại đều không yêu cầu bị cáo bồi thường. Xét thấy số sợi kim loại màu trắng bạc này còn giá trị sử dụng nên cần trả lại cho chủ sở hữu.
- Con dao màu đen, cán gỗ dài 10,5cm; lưỡi dao dài 12,5cm; phần lưỡi dao đã bị biến dạng, dao cũ đã qua sử dụng là công cụ bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- Chiếc xe đạp màu xanh, phần khung xe có chữ Việt Nhật, xe cũ đã qua sử dụng là tài sản do vợ bị cáo là bà Hoàng Thị H mua để cho con gái đi học nên cần trả lại cho bà Huệ.
- Số tiền 432.000 (bốn trăm ba mươi hai nghìn) đồng là tiền do bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu, sung công quỹ nhà nước.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Lý Anh T phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Căn cứ: điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Lý Anh T 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 03/3/2022.
2. Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Tịch thu, sung công quỹ nhà nước đối với bị cáo Lý Anh T số tiền 432.000 (bốn trăm ba mươi hai nghìn) đồng.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử:
- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) con dao màu đen, cán gỗ dài 10,5cm; lưỡi dao dài 12,5cm; phần lưỡi dao đã bị biến dạng, dao cũ đã qua sử dụng.
- Trả lại cho bà Hoàng Thị H 01 (một) xe đạp màu xanh, phần khung xe có chữ Việt Nhật, xe cũ đã qua sử dụng.
- Trả lại cho Công ty cổ phần – Tổng công ty Đầu tư hạ tầng V 03 (ba) kg các đoạn sợi kim loại màu trắng bạc đã qua sử dụng trong 01 (một) bao tải màu trắng bên trong đựng 03kg các đoạn sợi kim loại màu trắng bạc đã qua sử dụng.
- Trả lại cho ông Nguyễn Chí T 12 (mười hai) kg các sợi kim loại màu trắng bạc đã qua sử dụng trong 01 (một) bao tải màu trắng bên trong đựng 12kg các sợi kim loại màu trắng bạc đã qua sử dụng.
Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang nằm tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 74 ngày 31/5/2022.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử buộc bị cáo Lý Anh T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị hại (vắng mặt tại phiên tòa có lý do) có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (vắng mặt tại phiên tòa có lý do) có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: -Tòa án tỉnh Cao Bằng; - Công an tỉnh Cao Bằng; - Viện kiểm sát TP Cao Bằng; - Công an TP Cao Bằng; - Thi hành án DS TP Cao Bằng; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có QLNVLQ; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quỳnh Mai |