- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Cảnh Đ - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Cảnh Đ và Hoàng Xuân Q phạm tội “Giết người”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2022/HS-ST Ngày 25 - 8 - 2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Anh Cường
Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Q Bằng - Giáo viên nghỉ hưu
Bà Đỗ Thị Kim Thúy - Giáo viên nghỉ hưu
Ông Nguyễn Văn An
- Thư ký phiên toà: Bà Triệu Mỹ Linh – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh
Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thơm - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2022, tại Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2022/TLHS-ST ngày 12 tháng 7 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2022/QĐXXST-HS ngày 05/8/2022 đối với các bị cáo:
1. Hoàng Cảnh Đ, sinh ngày 05 tháng 9 năm 2000 tại: Huyện C, tỉnh Phú Thọ; trú tại: Khu 5, xã A, huyện C, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Văn N và bà Hoàng Thị Ă; vợ, con: Chưa có; tiền sự, tiền án: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/01/2022 (Có mặt).
2. Hoàng Xuân Q, sinh ngày 29 tháng 7 năm 2005 tại: Huyện Â, tỉnh Lai Châu; trú tại: Bản B, xã B, huyện Â, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Văn D và bà Lường Thị D; vợ, con: Chưa có; tiền sự, tiền án: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/5/2022 (Có mặt).
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Q:
+ Ông Hoàng Văn D, sinh năm 1983; trú tại: Bản B, xã B, huyện Â, tỉnh Lai Châu (Có mặt).
+ Bà Lường Thị D, sinh năm 1984; trú tại: Bản B, xã B, huyện Â, tỉnh Lai Châu (Có mặt).
- Người bị hại: Anh Phạm Đ, sinh năm 1998; trú tại: Xóm 8, xã E, huyện Ê, tỉnh Thái Bình (Có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Hoàng Thị Ă, sinh năm
1975; trú tại: Khu 5, xã A, huyện C, tỉnh Phú Thọ (Có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Đ: Ông Vũ Văn D – Luật sư Văn phòng Luật sư Vũ Y và cộng sự, Đoàn luật sư tỉnh Vĩnh Phúc (Có mặt).
- Luật sư bào chữa cho bị cáo Q: Bà Nguyễn Thị Kim Q - Luật sư Công ty Luật TNHH X, Đoàn luật sư tỉnh Vĩnh Phúc (Có mặt) và bà Kim Hồng T - Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh Vĩnh Phúc (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 03/10/2021, sau khi ăn uống xong tại quán lẩu nướng “H” ở bờ hồ thuộc phường G, thành phố H, tỉnh Vĩnh Phúc. Hoàng Cảnh Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn đen, BKS: 88K3-2963 chở chị Trương Thị I, sinh năm 1989, ở phường 1, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh (Là nhân viên của khách sạn K) về khách sạn K ở khu đô thị L, phường M, thành phố H, tỉnh Vĩnh Phúc. Khi về đến trước cửa nhà hàng N, đối diện cửa chính khách sạn K thì Đ dừng xe để chị I vào khách sạn. Lúc này anh Phạm Đ, sinh năm 1998, ở xã E, huyện Ê, tỉnh Thái Bình (Là nhân viên nhà hàng N) cùng với Cao Văn O, sinh năm 1990, ở xã Ô, huyện Ơ, tỉnh Vĩnh Phúc; Lò P, sinh năm 1994, ở xã Q, huyện R, tỉnh Yên Bái; Lê Thị S, sinh năm 1990, ở xã S1, huyện S2, tỉnh Kiên Giang và Nguyễn Mỹ Q, sinh năm 1992, ở xã Điển Bạch Đ, huyện T, tỉnh Cà Mau (Đều là nhân viên khách sạn K) đang ngồi nói chuyện với nhau ở bậc lên xuống trước cửa khách sạn K. Khi nhìn thấy Đ, nhóm anh Nam đều nhìn về hướng Đ, thấy nhóm của anh Nam nhìn, Đ nghĩ mình bị nhìn đểu nên khi đi xe mô tô qua, Đ nói “Nhìn đéo gì mà nhìn, thích đánh nhau không”, nghe Đ nói như vậy thì anh Nam đứng dậy chạy ra đường đuổi theo Đ và dùng tay vẫy ra hiệu gọi Đ đứng lại để nói chuyện nhưng Đ nghĩ bị nhóm của anh Nam đuổi đánh nên không dừng lại mà tiếp tục đi xe mô tô về quán Xưởng Beer (Nơi Đ làm việc) ở tổ dân phố X, phường M, thành phố H, cách khách sạn K khoảng 300m. Khi về đến quán Xưởng Beer, Đ gọi bạn làm cùng là Hoàng Xuân Y, sinh năm 2004, ở xã B, huyện Â, tỉnh Lai Châu để rủ Y đi đánh nhóm của anh Nam nhưng khi đó Y đi uống rượu chưa về, lúc này tại quán chỉ có Hoàng Xuân Q (Là em họ của Y, làm việc cùng Đ tại Xưởng Beer). Khi thấy Đ gọi Y thì Q trả lời: “Anh Y chưa về”, Đ gọi Q: “Xuống anh bảo”. Khi Q đi từ trên gác xép xuống, Đ nói: “Có thằng định đánh anh, mày đi cùng anh”, rồi Đ đi vào trong khu nấu ăn cầm một con dao (Dạng dao thái thức ăn) chuôi cầm bằng gỗ dài 12,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 21cm, bản rộng nhất 09cm, đồng thời Đ bảo Q: “Mày cầm thêm một con dao nữa”, Q hiểu ý Đ rủ Q cầm dao đi để đánh nhau nên Q cũng chạy vào khu nấu ăn cầm một con dao (Dạng dao chặt thức ăn) chuôi cầm bằng gỗ dài 12,5cm, lưỡi dao dài 21,5cm, bản rộng nhất 10,3cm. Sau khi thấy Q cầm dao ra, Đ nổ máy xe mô tô và điều khiển xe chở Q từ quán Xưởng Beer đến trước cửa khách sạn K tìm nhóm của anh Nam để đánh. Khi tới đường Mai Hắc Đế trước của khách sạn K thì Đ dừng xe ở giữa đường, đầu xe mô tô hướng theo chiều đi ra Quốc lộ 2A. Lúc này, nhóm anh Nam vẫn đang ngồi ở bậc lên xuống trước cửa khách sạn K, thấy Đ điều khiển xe đi đến và dừng xe mô tô đứng ở giữa đường thì anh Phạm Đ đi từ trước cửa khách sạn đến đứng trước đầu xe mô tô của Đ, cùng lúc này anh Cao Văn O, chị Lê Thị S và chị Nguyễn Mỹ Q cũng đi từ cửa khách sạn K đến vị trí xe mô tô của Đ. Khi thấy anh Nam đi đến đầu xe mô tô thì Đ đang ngồi ở tư thế buông hai chân qua yên xe chống xuống đường, Đ liền đổi tư thế cho hai chân về một bên chân chống phụ của xe để đứng xuống lòng đường nhưng mông vẫn ngồi tựa vào yên xe mô tô, còn Q vẫn ngồi trên xe phía sau, cả hai đều cầm dao ở tay phải. Lúc này anh Phạm Đ chửi Đ và dùng tay chỉ về phía Đ thì bị Đ dùng tay gạt tay anh Nam ra, lập tức anh Nam dùng tay phải đấm một cái vào vùng má trái của Đ, Đ liền dùng con dao đang cầm trên tay phải chém liên tiếp từ trên xuống dưới, từ phải qua trái 03 phát vào anh Nam gồm phát chém đầu tiên trúng vào vùng giữa trán, phát chém thứ hai trúng vào vùng cổ phía bên trái, phát chém thứ ba trúng vào ngực trái của anh Nam. Khi thấy Đ dùng dao chém anh Nam, Q xuống khỏi yên xe máy và Q thấy nhóm anh O đi đến gần thì Q lùi lại thấy vậy chị Nguyễn Mỹ Q lao vào ôm ngang người Q và đẩy Q ra xa vị trí của Đ, Q vùng vẫy để thoát ra, khi thoát được Q liền chạy về phía Đ. Đ lúc này thấy anh Nam bị thương chảy nhiều máu ở vùng đầu, cổ nên Đ bảo Q lên xe rồi Đ điều khiển xe mô tô đưa Q về quán Xưởng Beer để cất dao. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô chở Q đi ra khu vực bờ hồ ở phường Hùng Vương, thành phố H, tỉnh Vĩnh Phúc để đi trốn. Tại khu vực bờ hồ thuộc phường Hùng Vương, Đ bảo Q quay về còn Đ một mình đi trốn. Q điều khiển xe đi về quán cất, khi về đến quán Xưởng Beer, Q nhìn thấy con dao mà Đ sử dụng chém anh Nam có dính nhiều máu nên Q đã dùng vòi nước xịt rửa sạch và đi ngủ. Sau khi Đ rời đi, anh O thấy anh Nam bị chạy nhiều máu nên đã đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa kI khu vực H, rồi chuyển đến Bệnh viện trung ương Quân đội 108 - Bộ quốc phòng để điều trị, đến ngày 09/10/2021 thì ra viện.
Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật chứng và trưng cầu giám định.
Thƣơng tích của anh Phạm Đ:
Theo biên bản làm việc hồi 01 giờ 20 phút, ngày 04/10/2021 tại kI cấp cứu Bệnh viện đa kI khu vực H; tỉnh Vĩnh Phúc cung cấp: Anh Phạm Đ vào viện lúc 00 giờ 05 phút ngày 04/10/2021, được chẩn đoán là: Vết thương phức tạp vùng cổ trái/ Vết thương trán, vết thương ngực trái. Bệnh nhân được chuyển đến Bệnh viện Trung ương Quân Đội 108.
Tại Bệnh án số 21987678 của Bệnh viện Trung ương Quân Đội 108 cung cấp: Anh Phạm Đ, vào viện hồi 01 giờ 50 phút, ngày 04/10/2021. Tình trạng bệnh nhân: Tỉnh, huyết động ổn, không phù, không sốt. Mạch: 96 lần/phút, nhịp thở 18 lần/phút, nhiệt độ: 36°C, huyết áp: 125/75 mmHg. Tim nhịp đều, T1, T2 rõ. Rì rào phế nang rõ, dấu hiệu thần kinh khu trú âm tính. Glassgow: 15 điểm, tê bì cẳng tay trái.
- Vết thương vùng cổ bên ngoài khoảng (4 x 5)cm, khó khảo sát đáy, vết thương thẩm máu tĩnh mạch, mạch cảnh trái bắt được.
- Vết thương ngoài ngực trái khoảng 10cm, đã khâu vết thương.
- Vết thương vùng trán khoảng (2 x 8)cm, gọn sạch, có máu tụ dưới da, không lộ xương sọ.
- Kết quả siêu âm Doppler hệ mạch cảnh ngày 4/10/2021: Động mạch cảnh bên và đốt sống bên trái đoạn V2 đường kính và tốc độ dòng chảy bình thường.
- Kết quả siêu âm màng phổi ngày 04/10/2021: Màng phổi hai bên không có dịch.
- Kết quả siêu bụng ngày 04/10/2021: Gan, mật, tụy, lách, hai thận và bàng Q trong giới hạn bình thường.
- Kết quả CLVT lồng ngực ngày 04/10/2021: Hình ảnh đường mất liên tục ức đòn chũm trái. Nhiều bóng khí nhỏ lan vào trong các lớp cơ và quanh bó mạch cảnh trái. Các tạng khác trong lồng ngực không thấy bất thường.
- Kết quả X. Q tim phổi ngày 04/10/2021: Bình thường.
Chẩn đoán: Vết thương phần mềm vùng đầu, vùng cổ, ngực do chém bằng vật sắc.
- Kết quả chụp CLVT sọ não ngày 04/10/2021, kết quả: Đường vỡ xương trán trái thông với xoang trán trái. Ổ tụ máu dưới da vùng trán tương ứng.
Ra viện ngày 09/10/2021, kết quả điều trị 5 ngày: Ổn định.
Kết quả giám định:
Ngày 06/10/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H ra Quyết định trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc giám định thương tích của anh Phạm Đ, ngày 22/11/2021 Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc có Bản kết luận pháp y về thương tích số 345/TgT, kết luận:
“Vết thương phần mềm vùng giữa trán kích thước trung bình, xếp 06%;
Vết thương phần mềm trước cổ trái kích thước trung bình, xếp 04%;
Vết thương phần mềm bờ trên ngoài cơ ngực trái kích thước trung bình, xếp 02%.
Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể xếp: 12%. Các thương tích đã mô tả trên có thể do vật sắc gây nên.
Hiện tại nạn nhân đang nằm điều trị vết thương, khi nào ra viện giám định bổ sung.”
Ngày 10/12/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H ra Quyết định trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc giám định bổ sung thương tích của anh Phạm Đ. Ngày 28/12/2021 Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc kết luận giám định bổ sung pháp y về thương tích số 440/TgT, kết luận:
“- Vỡ xương trán trái xếp: 08%.
- Vỡ xoang trán trái xếp: 07%.
- Sẹo vết thương phần mềm vùng giữa trán kích thước trung bình, xếp: 06%;
- Sẹo vết thương phần mềm trước cổ trái kích thước trung bình, xếp: 04%;
- Sẹo vết thương phần mềm bờ ngoài cơ ngực trái kích thước lớn, xếp 03%.
- Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể xếp: 25%.”
Ngày 04 tháng 01 năm 2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, tỉnh Vĩnh Phúc có Văn bản số 64 trao đổi và đề nghị Trung tâm Pháp y tỉnh Vĩnh Phúc cho biết đối với các vết thương tích của Phạm Đ có nguy hiểm đến tính mạng hay không; vết thương ở cổ cách động mạch, tĩnh mạch chính ở cổ của Nam khoảng bao nhiêu mm, nếu đứt động mạch, tĩnh mạch ở cổ thì tiên lượng nguy cơ có xảy ra chết người hay không; lực tác động để gây nên vết thương ở cổ như thế nào, là mạnh, vừa hay yếu.
Ngày 06 tháng 01 năm 2022, Trung tâm Pháp y tỉnh Vĩnh Phúc có Văn bản số: 01/PY - GĐTH v/v Trả lời Văn bản số 64 như sau:
“Vết thương ở vùng mặt ngoài cổ trái đứt cơ ức đòn chũm trái, theo giải phẫu sẽ cách động mạch và tĩnh mạch lớn của bó mạch cổ khoảng (10 – 15)mm, tùy thuộc vào thể tạng của mỗi người và giải phẫu của mỗi người.
Nếu đứt động mạch và tĩnh mạch cảnh vùng cổ, nguy cơ tử vong cao nếu không được cấp cứu kịp thời.
Lực tác động lên vết thương vùng cổ mạch, vừa và yếu, phụ thuộc vào vật gây thương tích, tư thế và cơ địa của người bị tổn thương... Điều này chỉ đánh giá và xác định được khi dựng lại hiện trường”.
Ngày 06/10/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H ra Quyết định trưng cầu giám định số 456 trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định mẫu chất màu nâu đỏ thu giữ tại hiện trường
Ngày 16/10/2021, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc ban hành bản Kết luận số 2657, kết luận: “Mẫu chất màu nâu đỏ thu tại hiện trường gửi giám định là máu người, nhóm máu A”.
Ngày 06/10/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H ra Quyết định trưng cầu giám định số 457 trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định mẫu chất màu nâu đỏ bám dính trên bề mặt con dao do Hoàng Xuân Q giao nộp để xác định có phải máu người không, nếu là máu người thì nhóm máu gì?
Ngày 20/10/2021, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc ban hành bản Kết luận số 2696, kết luận: “Chất màu nâu đỏ bám dính trên con dao do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H thu giữ gửi giám định là máu người, nhóm máu A”.
Phiếu trả kết quả xét nghiệm ngày 20/12/2021 của Bệnh viện đa kI tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: “Phạm Đ – Sn 1998 - xã E- Ê- Thái Bình thuộc nhóm máu A.”
Như vậy, xác định mẫu máu thu tại hiện trường và mẫu máu bám dính trên con dao là hung khí của vụ án đều là nhóm máu A và cùng nhóm máu của bị hại Phạm Đ.
Ngày 06/10/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H ra Quyết định trưng cầu giám định số 458 trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định đoạn video thu giữ tại hệ thống camera an ninh của khách sạn K.
Ngày 20/10/2021, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc ban hành bản Kết luận số 2695, kết luận: “Trích xuất được 14 ảnh diễn biến xuất hiện trên 01 tập tin video gửi giám định, được in thành bản ảnh kèm theo kết luận giám định (Các hình ảnh được chụp in ra có mô tả về người và vật... xuất hiện trong tập video): Các ảnh kèm theo KLGĐ thể hiện là:
Ảnh 1: Có một số người ngồi tại khu vực cửa nhà.
Ảnh 3, 4: Xuất hiện 01 xe mô tô bật đèn chiếu sáng đi qua che khuất về bên phải.
Ảnh 5: Một số người đang ngồi trước cửa nhà đi qua lại xung quanh.
Ảnh 6: 01 xe mô tô bật đèn chiếu sáng có 02 người ngồi trên đi tới từ phía bên phải, rồi quay vòng lại; sau đó xe mô tô này dừng lại trên đường; đồng thời một số người xung quanh đi tới gần xe mô tô này.
Ảnh 7: Trong số những người đi tới gần mô tô, có 01 người mặc áo cộc tay sáng màu, quần ngắn thẫm màu (người A); người A giơ tay về phía trước hướng tới đầu xe mô tô.
Ảnh 8: Người A vung tay đánh về phía người điều khiển xe mô tô (người B).
Ảnh 9: Người B cũng vung tay đánh về phía người A.
Ảnh 10: Một số người tới can ngăn hai người này.
Ảnh 11: Người A và B đứng trên đường, giằng co nhau. Một số người khác đi lại xung quanh.
Ảnh 12: Người B điều khiển xe mô tô đi khỏi.
Ảnh 13: 01 người kéo người A đi tới khu vực trước cửa nhà.
Ảnh 14: Một số người đi qua lại.
Nghiên cứu đoạn video, các bản ảnh kèm theo KLGĐ thấy phù hợp với diễn biến vụ án như đã nêu ở trên phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại, nhân chứng và các tài liệu khác mà cảnh sát điều tra đã thu thập được.
Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu; xử lý vật chứng:
- Ngày 04/10/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 88K3- 2963 mà Đ sử dụng để chở Q đi đánh anh Nam tối ngày 03/10/2021. Kết quả điều tra xác định, chiếc xe này là của anh Đỗ Bá Công, sinh năm 1988; trú tại: Tổ 8, phường G, thành phố H, tỉnh Vĩnh Phúc, là chủ quán Xưởng Beer nơi Đ làm thuê. Tối ngày 03/10/2021 khi Đ sử dụng chiếc xe trên đi thực hiện hành vi phạm tội thì anh Công không biết. Do đó, ngày 07/5/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe trên cho anh Công theo quy định.
- Ngày 04/10/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H thu giữ 02 con dao mà Đ và Q đã cầm đi để chém anh Nam tối ngày 03/10/2021 (Đặc điểm của 02 con dao này như đã nêu ở phần trên), xác định 02 con dao này là vật chứng của vụ án, đây là tài sản hợp pháp của quán Xưởng Beer do anh Công làm chủ quán, tuy nhiên anh Công không đề nghị trả lại hai con dao trên. Do vậy, cần tịch thu tiêu hủy 02 con dao này.
- 01 gói giấy niêm phong, bên ngoài có ghi Công an tỉnh Vĩnh Phúc-Phòng kỹ thuật hình sự; mẫu trả vụ 2642 theo TCGĐ số 456 ngày 06/10/2021, mẫu còn lại sau giám định ký hiệu A1 và bao gói niêm phong.
Về bồi thƣờng dân sự:
Anh Nam yêu cầu Đ phải bồi thường số tiền chi phí điều trị, thuốc men và tổn hại sức khỏe tổng là 123.940.000đ (Một trăm hai mươi ba triệu chín trăm bốn mươi nghìn đồng). Đến nay, gia đình Đ đã bồi thường được 10.000.000đ (Mười triệu đồng), anh Nam yêu cầu Đ tiếp tục phải bồi thường.
Tại bản cáo trạng số: 67/CT-VKS-P2 ngày 11/7/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo: Hoàng Cảnh Đ và Hoàng Xuân Q về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc sau khi đánh giá chứng cứ, phân tích tính chất nghiêm trọng của vụ án, nhân thân của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Cảnh Đ và Hoàng Xuân Q phạm tội “Giết người” và đề nghị áp dụng: Điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; (điểm o khoản 1 Điều 52 đối với Đ); Điều 15; khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Hoàng Cảnh Đ từ 10 năm đến 10 năm 06 tháng tù; xử phạt Hoàng Xuân Q từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù và đề nghị bồi thường theo yêu cầu của bị hại, xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Luật sư Vũ Văn Y bào chữa cho bị cáo Đ: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng hình phạt thấp nhất cho bị cáo vì quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã khai báo rất thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Mặc dù gia đình rất khó khăn nhưng mẹ bị cáo đã tự nguyện hỗ trợ bị hại 10.000.000đ điều trị bệnh, người bị hại xin giảm hình phạt cho bị cáo.
Luật sư, trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Q: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng hình phạt thấp nhất cho bị cáo vì bị cáo là người chưa thành niên, khi phạm tội mới chỉ hơn 16 tuổi, quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã khai báo rất thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo chỉ là người đi cùng, không trực tiếp đánh bị hại, người bị hại xin giảm hình phạt cho bị cáo.
Đại diện hợp pháp của bị cáo Q: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng hình phạt thấp nhất cho bị cáo vì quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã khai báo rất thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
Người bị hại anh Phạm Đ đề nghị các bị cáo bồi thường chi phí điều trị, thuốc men và tổn hại sức khỏe như đã có đơn yêu cầu và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị Ă: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng hình phạt thấp nhất cho bị cáo. Đối với khoản tiền 10.000.000đ đã bồi thường cho bị hại là tiền của gia đình và tính vào số tiền bị cáo Q phải bồi thường.
Các bị cáo nói lời sau cùng, do nhận thức pháp luật hạn chế, thiếu suy nghĩ đã vi phạm pháp luật nên rất ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra tỉnh Vĩnh Phúc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình điều tra và xét hỏi công khai tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Cảnh Đ và Hoàng Xuân Q đã khai nhận rõ toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với các tình tiết khách quan đã được cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo. Như vậy, Hội đồng xét xử một lần nữa có đủ cơ sở kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 03/10/2021, sau khi ăn uống xong tại quán lẩu nướng “Hưng Quán” ở bờ hồ thuộc phường G, thành phố H, tỉnh Vĩnh Phúc. Hoàng Cảnh Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, BKS: 88K3-2963 chở chị Trương Thị I (Là nhân viên của khách sạn K) về khách sạn K ở khu đô thị L, phường M, thành phố H, tỉnh Vĩnh Phúc. Khi về đến trước cửa nhà hàng N, đối diện cửa chính khách sạn K thì Đ dừng xe để chị I vào khách sạn. Lúc này anh Phạm Đ (Là nhân viên nhà hàng N) cùng với Cao Văn O, Lò P, Lê Thị S và Nguyễn Mỹ Q (Đều là nhân viên khách sạn K) đang ngồi nói chuyện với nhau ở bậc lên xuống trước cửa khách sạn K. Khi nhìn thấy Đ, nhóm của anh Nam đều nhìn về hướng Đ, thấy nhóm của anh Nam nhìn, Đ nghĩ mình bị nhìn đểu nên khi đi xe mô tô qua, Đ nói “Nhìn đéo gì mà nhìn, thích đánh nhau không”, nghe Đ nói vậy thì anh Nam đứng dậy chạy ra đường đuổi theo Đ và dùng tay vẫy ra hiệu gọi Đ đứng lại để nói chuyện nhưng Đ nghĩ bị nhóm của anh Nam đuổi đánh nên không dừng lại mà tiếp tục đi xe mô tô về quán Xưởng Beer (Nơi Đ làm việc), cách khách sạn K khoảng 300m. Khi về đến quán Xưởng Beer, Đ gọi bạn làm cùng là Hoàng Xuân Y để rủ Y đi đánh nhóm của anh Nam nhưng khi đó Y đi uống rượu chưa về, lúc này tại quán chỉ có Hoàng Xuân Q (Là em họ của Y, làm việc cùng Đ tại Xưởng Beer). Khi thấy Đ gọi Y thì Q trả lời: “Anh Y chưa về”, Đ gọi Q: “Xuống anh bảo”. Q đi từ trên gác xép xuống, Đ nói: “Có thằng định đánh anh, mày đi cùng anh”, rồi Đ đi vào trong khu nấu ăn cầm một con dao (Dạng dao thái thức ăn) chuôi cầm bằng gỗ dài 12,5cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 21cm, bản rộng nhất 09cm, đồng thời Đ bảo Q “Mày cầm thêm một con dao nữa”, Q hiểu ý Đ rủ Q cầm dao đi để đánh nhau nên Q cũng chạy vào khu nấu ăn cầm một con dao (Dạng dao chặt thức ăn) chuôi cầm bằng gỗ dài 12,5cm, lưỡi dao dài 21,5cm, bản rộng nhất 10,3cm. Sau khi thấy Q cầm dao ra, Đ nổ máy xe mô tô và điều khiển xe chở Q từ quán Xưởng Beer đến trước cửa khách sạn K tìm nhóm của anh Nam để đánh. Khi tới đường Mai Hắc Đế trước của khách sạn K thì Đ dừng xe ở giữa đường, đầu xe mô tô hướng theo chiều đi ra Quốc lộ 2A. Lúc này, nhóm anh Nam vẫn đang ngồi ở bậc lên xuống trước cửa khách sạn K, thấy Đ điều khiển xe đi đến và dừng xe mô tô đứng ở giữa đường thì anh Phạm Đ đi từ trước cửa khách sạn đến đứng trước đầu xe mô tô của Đ, cùng lúc này anh Cao Văn O, chị Lê Thị S và chị Nguyễn Mỹ Q cũng đi từ cửa khách sạn K đến vị trí xe mô tô của Đ. Khi thấy anh Nam đi đến đầu xe mô tô thì Đ đang ngồi ở tư thế buông hai chân qua yên xe chống xuống đường, Đ liền đổi tư thế cho hai chân về một bên chân chống phụ của xe để đứng xuống lòng đường nhưng mông vẫn ngồi tựa vào yên xe mô tô, còn Q vẫn ngồi trên xe phía sau, cả hai đều cầm dao ở tay phải. Lúc này anh Phạm Đ chửi Đ và dùng tay chỉ về phía Đ thì bị Đ dùng tay gạt tay anh Nam ra, lập tức anh Nam dùng tay phải đấm một cái vào vùng má trái của Đ, Đ liền dùng con dao đang cầm trên tay phải chém liên tiếp từ trên xuống dưới, từ phải qua trái 03 phát vào anh Nam gồm phát chém đầu tiên trúng vào vùng giữa trán, phát chém thứ hai trúng vào vùng cổ phía bên trái, phát chém thứ ba trúng vào ngực trái của anh Nam. Khi thấy Đ dùng dao chém anh Nam, Q xuống khỏi yên xe máy và Q thấy nhóm anh O đi đến gần thì Q lùi lại thấy vậy chị Nguyễn Mỹ Q lao vào ôm ngang người Q và đẩy Q ra xa vị trí của Đ, Q vùng vẫy để thoát ra, khi thoát được Q liền chạy về phía Đ. Đ lúc này thấy anh Nam bị thương chảy nhiều máu ở vùng đầu, cổ nên Đ bảo Q lên xe rồi Đ điều khiển xe mô tô đưa Q về quán Xưởng Beer để cất dao. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô chở Q đi ra khu vực bờ hồ ở phường Hùng Vương, thành phố H, tỉnh Vĩnh Phúc để đi trốn. Q điều khiển xe đi về quán cất, khi về đến quán Xưởng Beer, Q nhìn thấy con dao mà Đ sử dụng chém anh Nam có dính nhiều máu nên Q đã dùng vòi nước xịt rửa sạch và đi ngủ. Sau khi Đ rời đi, anh O thấy anh Nam bị chạy nhiều máu nên đã đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa kI khu vực H, rồi chuyển đến Bệnh viện trung ương Quân đội 108- Bộ quốc phòng để điều trị, đến ngày 09/10/2021 thì ra viện.
Ngày 06/10/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H ra Quyết định trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc giám định thương tích của anh Phạm Đ, ngày 22/11/2021 Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc có Bản kết luận pháp y về thương tích số 345/TgT, kết luận:
“Vết thương phần mềm vùng giữa trán kích thước trung bình, xếp 06%;
Vết thương phần mềm trước cổ trái kích thước trung bình, xếp 04%;
Vết thương phần mềm bờ trên ngoài cơ ngực trái kích thước trung bình, xếp 02%.
Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể xếp: 12%. Các thương tích đã mô tả trên có thể do vật sắc gây nên.
Hiện tại nạn nhân đang nằm điều trị vết thương, khi nào ra viện giám định bổ sung.”
Ngày 10/12/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H ra Quyết định trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc giám định bổ sung thương tích của anh Phạm Đ. Ngày 28/12/2021 Trung tâm pháp y tỉnh Vĩnh Phúc kết luận giám định bổ sung pháp y về thương tích số 440/TgT, kết luận:
“ - Vỡ xương trán trái xếp: 08%.
- Vỡ xoang trán trái xếp: 07%.
- Sẹo vết thương phần mềm vùng giữa trán kích thước trung bình, xếp: 06%;
- Sẹo vết thương phần mềm trước cổ trái kích thước trung bình, xếp: 04%;
- Sẹo vết thương phần mềm bờ ngoài cơ ngực trái kích thước lớn, xếp 03%.
- Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể xếp: 25%.”
Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của các bị cáo đã phù hợp với nội dung Cáo trạng, kết luận điều tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Hành vi cho rằng người bị hại nhìn đểu mình mà Hoàng Cảnh Đ đã rủ Hoàng Xuân Q chuẩn bị dao quay lại chém nhiều nhát vào đầu, cổ, ngực, là những vùng trọng yếu trên cơ thể của bị hại, có thể dẫn đến chết người. Hành vi phạm tội của bị cáo Hoàng Cảnh Đ và Hoàng Xuân Q đã phạm vào tội “Giết người”, theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại khoản 1 điều 123 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
n) Có tính chất côn đồ”
Xét tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, tính mạng, sức khỏe của con người là vốn quý, được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, bất kỳ ai có hành vi xâm phạm trái phép đều bị xử lý nghiêm minh. Chỉ vì nguyên cớ rất nhỏ nhặt cho rằng nhóm của anh Phạm Đ nhìn đểu mà Hoàng Cảnh Đ đã rủ Hoàng Xuân Q đi đánh nhau với nhóm của anh Nam. Hành vi sử dụng dao là hung khí nguy hiểm chém vào trán, cổ, ngực của anh Nam là vùng trọng yếu trên cơ thể. Hậu quả anh Nam chỉ bị tổn hại sức khỏe 25% và không bị tử vong là do được cứu chữa kịp thời. Do đó hành vi của Hoàng Cảnh Đ đã phạm vào tội Giết người với tình tiết định khung tăng nặng là “Có tính chất côn đồ”.
Hoàng Xuân Q mặc dù chưa đánh, chém được ai, nhưng khi Đ rủ Q đi đánh nhau thì Q đã nhất trí cầm theo dao đi cùng Đ để đánh, chém nhóm của anh Nam. Do đó, hành vi của Q đã vào tội Giết người với vai trò đồng phạm là người giúp sức cho Đ.
Xét về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Hoàng Cảnh Đ đã xúi giục Hoàng Xuân Q là người dưới 18 tuổi phạm tội nên Đ phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Hoàng Xuân Q không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Gia đình của bị cáo Đ đã bồi thường thiệt hại cho anh Nam số tiền 10.000.000đ. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và bị hại có một phần lỗi. Do vậy, Đ được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hoàng Xuân Q thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là người dân tộc thiểu số nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại thời điểm phạm tội, Hoàng Xuân Q chưa đủ 18 tuổi (Mới 16 tuổi 02 tháng 06 ngày) nên Q còn được áp dụng các quy định tại Chương XII Bộ luật Hình sự khi lượng hình.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng cho các bị cáo và đề nghị mức án xử phạt các bị cáo là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, người bị hại đề nghị các bị cáo phải bồi thường 123.940.000đ gồm các khoản sau:
Bồi thường tổn thất về tinh thần: 30.000.000đ;
Bồi thường thiệt hại do không đi làm được trong thời gian 03 tháng 30.000.000đ;
Tiền chi trả cấp cứu và điều trị có hoá đơn 13.173.326đ;
Tiền chi trả cấp cứu và điều trị không có hoá đơn 20.000.000đ;
Các khoản khác gồm: Thuê xe đi lại, đồ dùng, điều trị tại nhà 30.776.674đ.
Các khoản yêu cầu bồi thường của bị hại đều hợp lý, mặc dù có những khoản yêu cầu không có hoá đơn, chứng từ nhưng phù hợp với quy định của pháp luật, được hội đồng xét xử chấp nhận. Hội đồng xét xử nhận thấy các thương tích của bị hại đều do bị cáo Đ gây ra nên bị cáo Đ phải chịu trách nhiệm bồi thường nhiều hơn, bị cáo Q chỉ là người đi cùng, không trực tiếp gây thương tích cho bị hại và bị cáo là người chưa thành niên, nhưng bị cáo là đồng phạm trong vụ án nên phải có trách nhiệm liên đới bồi thường. Tuy nhiên kỷ phần của bị cáo chịu ít hơn, Hội đồng xét xử phân chia kỷ phần bồi thường bị cáo Đ 80%, bị cáo Q 20%. Kỷ phần của bị cáo Đ là 123.940.000đ x 80% = 99.152.000đ, trong quá trình điều tra, mẹ của bị cáo Đ đã bồi thường 10.000.000đ, bị cáo còn phải bồi thường 89.152.000đ. Kỷ phần của bị cáo Q là 123.940.000đ x 20% = 24.788.000đ, theo quy định tại Điều 586 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình. Tại phiên toà bị cáo Q, bố mẹ bị cáo Q đều khẳng định Q chưa có tài sản riêng. Vì vậy kỷ phần của bị cáo Q, do bị cáo và bố mẹ của bị cáo Q cùng có trách nhiệm bồi thường.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 con dao, 01 gói giấy, mấu còn lại sau giám định ký hiệu A1 và bao gói niêm phong.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Hoàng Cảnh Đ và Hoàng Xuân Q phải nộp 200.000đ.
Án phí dân sự trong vụ án hình sự : Theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, mức án phí có giá ngạch từ trên 6.000.000đ đến 400.000.000đ là 5%. Bị cáo Đ phải bồi thường 89.152.000đ x 5% = 4.457.600đ. Bị cáo Q phải bồi thường 24.788.000đ x 5% = 1.239.400đ.
Do bị cáo Đ có giấy chứng nhận hộ nghèo, bị cáo Q là người dân tộc thiểu số, có giấy chứng nhận hộ cận nghèo nên các bị cáo được miễn án phí dân sự trong vụ án hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Hoàng Cảnh Đ và Hoàng Xuân Q phạm tội “Giết người”
Áp dụng: Điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 15; Điều 54; khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử phạt: Hoàng Cảnh Đ 09 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 18/01/2022.
Áp dụng: Điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57; Điều 54; Điều 58; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt: Hoàng Xuân Q 05 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 06/5/2022.
Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
Tịch thu tiêu huỷ 01 con dao, 01 gói giấy, mấu còn lại sau giám định ký hiệu A1 và bao gói niêm phong (Có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/7/2022).
Áp dụng: Điều 586; Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015:
Buộc bị cáo Hoàng Cảnh Đ và Hoàng Xuân Q phải liên đới bồi thường cho anh Phạm Đ 123.940.000đ. Kỷ phần của Hoàng Cảnh Đ 99.152.000đ, đã bồi thường 10.000.000đ, bị cáo còn phải bồi thường 89.152.000đ. Kỷ phần của Hoàng Xuân Q là 24.788.000đ. Kỷ phần của Q, bố mẹ của Q là ông Hoàng Văn D và bà Lường Thị Dung cùng có trách nhiệm bồi thường.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không chịu thi hành số tiền trên, thì hàng tháng còn phải chịu số tiền lãi theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Hoàng Cảnh Đ và Hoàng Xuân Q phải nộp 200.000đ.
Án phí dân sự trong vụ án hình sự: Bị cáo Hoàng Cảnh Đ và Hoàng Xuân Q không phải nộp án phí dân sự trong vụ án hình sự;
Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của bị cáo, luật sư bào chữa cho bị cáo chưa thành niên có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
- Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
- Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc;
(Đã ký)
- Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
- Các bị cáo;
- Người bào chữa cho bị cáo;
Đỗ Anh Cƣờng
- Người bị hại;
- Lưu hồ sơ, p. Hành chính tư pháp;
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; -Công an tỉnh Vĩnh Phúc; - Trại TG CA tỉnh Vĩnh Phúc; - Cục THADS tỉnh Vĩnh Phúc; - Bị cáo và người tham gia tố tụng; - Lưu HS + Toà HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đỗ Anh Cƣờng |