vanban.org

Bản án 70/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 30/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/10/2021.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các điều 584, 585, 586, 587, 590, 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Luật Thi hành án Dân sự. Buộc bị cáo Nguyễn Thanh N bồi thường thiệt hại về tài sản cho anh Trần Văn L số tiề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh N - xét xử trực tuyến 173 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/10/2021.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố t ng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2022/HS-ST
Ngày 30 - 5 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Phạm Thị Trúc Đào

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Trần Thanh Thảo

2/ Bà Trần Thị Ngọc Hà

- Thư ký phiên tòa:

+ Tại điểm cầu trung tâm: Ông Dương Quốc Thái – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

+ Tại điểm cầu thành phần: Ông Trịnh Sơn Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

+ Tại điểm cầu trung tâm: Ông Bùi Đức Tuấn - Kiểm sát viên.

+ Tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Hữu Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2022, tại điểm cầu trung tâm (Phòng xét xử A) tr s Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự sơ thẩm th lý số: 40/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2022, theo Quy t định đưa v án ra xét xử số: 117/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2022. Phiên tòa được m trực tuy n tại 02 điểm cầu, điểm cầu trung tâm là Phòng xử án tại tr s Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh (địa chỉ: 126 Lê Quyên, Phường 5, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh); điểm cầu thành phần là Phòng xử án tại Nhà tạm giữ Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh N; sinh năm 1984, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú (hộ khẩu thường trú: số 324B LHP, Phường ML, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ : Không có nơi cư trú ổn định); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Huỳnh Thị Xuân H; vợ, con: Chưa có;

Tiền án: Tại bản án số 267/2015/HSST ngày 26/11/2015, Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh k t án 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/5/2016, chưa thi hành khoản nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Tiền sự: Ngày 02/8/2018, Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh ra quy t định áp d ng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ s cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng. Chấp hành xong ngày 27/10/2019.

Nhân thân: Ngày 30/6/2011, Công an Thành phố Hồ Chí Minh bắt về hành vi sử d ng trái phép chất ma túy. Ngày 12/7/2011, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh ra quy t định đưa vào cơ s chữa bệnh bắt buộc thời hạn 24 tháng.

Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/10/2021 đ n nay. (có mặt)

- Bị hại: Anh Trần Văn L, sinh năm 1990; nơi cư trú: 329/2B LHP, Phường ML, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

- Những người tham gia tố tụng khác: Ông Nguyễn Văn P, cán bộ Nhà tạm giữ Công an Quận 8 – tại điểm cầu thành phần. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn bi n tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài và mua ma túy sử d ng nên Nguyễn Thanh N nảy sinh ý định tìm ki m tài sản sơ h của người khác để chi m đoạt bán lấy tiền. Thực hiện ý định, khoảng 02 giờ ngày 15/7/2021, khi N đi bộ ngang qua trước nhà của anh Trần Văn L (địa chỉ số: 329/2B LHP, Phường ML, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh), thì nhìn thấy cửa rào nhà anh L đang đóng nhưng không khóa, bên trong nhà có dựng 02 xe gắn máy. N lén lút m cửa rào đi vào trong nhà thì thấy ông Trần Văn C (cha của anh L) đang nằm ngủ dưới sàn nhà, N ti p t c đi xuống phía sau nhà tìm ki m thì thấy 01 chi c điện thoại di động hiệu Galaxy A01 của anh L đang cắm sạc pin (phía sau ốp lưng điện thoại có kẹp số tiền 1.000.000 đồng). N lấy điện thoại cùng số tiền bỏ vào túi quần rồi quay lên chỗ ông C nằm ngủ lấy chìa khóa và chi m đoạt xe gắn máy biển số 59L2-655.89.

Trên đường điều khiển xe biển số 59L2-655.89 và mang tài sản đi tiêu th , khi đ n khu vực đường LCH, Quận 6, N gặp một nhóm người chơi đánh bài nên N đi đ n liên hệ bán xe và điện thoại di động cho một trong số những người đang chơi bài được số tiền 1.300.000 đồng. Toàn bộ số tiền chi m đoạt và tiền bán các tài sản có được, N đã tiêu xài cá nhân h t.

Khi phát hiện bị mất tài sản, vào lúc 09 giờ 40 phút, ngày 15/7/2021, anh L đ n Công an Phường 15, Quận 8 trình báo v việc và giao nộp 01 USB chứa dữ liệu hình ảnh camera. Qua xác minh hình ảnh trích xuất dữ liệu từ camera, ngày 16/7/2021, Công an mời Nguyễn Thanh N về tr s để làm rõ sự việc và N khai nhận toàn bộ hành vi chi m đoạt tài sản như trên.

Ngày 27/7/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng hình sự Quận 8 k t luận: Xe gắn máy biển số 59L2-655.89 có trị giá là 3.380.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Galaxy A01 có trị giá là 1.110.000 đồng.

Vật chứng tạm giữ trong v án: 01 USB chứa dữ liệu hình ảnh trích xuất camera ghi nhận hành vi trộm cắp tài sản của Nguyễn Thanh N, do anh Trần Văn L giao nộp, được lưu giữ theo hồ sơ v án.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Văn L yêu cầu Nguyễn Thanh N bồi thường thiệt hại số tiền 11.000.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 45/CT-VKSQ8 ngày 24/3/2022, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Thanh N về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã quy k t, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để sớm có cơ hội được tr về hòa nhập cuộc sống. Và đồng ý bồi thường cho bị hại Trần Văn L số tiền 11.000.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh giữ quyền công tố tại phiên tòa nêu quan điểm luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung cáo trạng. Từ những chứng cứ được thu thập hợp pháp, được kiểm tra tại phiên tòa, bản tự khai, biên bản ghi lời khai đã có đủ căn cứ k t luận hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh N đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” với tổng trị giá tài sản chi m đoạt là 5.490.000 đồng, thuộc trường hợp chi m đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đ n dưới 50.000.000 đồng. Năm 2015, bị cáo bị Tòa án nhân dân Quận 8 xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm; ngoài ra, bị cáo đã 02 lần bị áp d ng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ s cai nghiện bắt buộc do nghiện ma túy. Tuy nhiên, cần xem xét tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N từ 01 năm 06 tháng đ n 02 năm tù. Không áp d ng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng, đề nghị lưu giữ theo hồ sơ đối với 01 USB chứa dữ liệu hình ảnh hành vi phạm tội của bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của bị hại, buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 11.000.000 đồng.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện Kiểm sát, bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm của mình, không bên nào đưa ra những tình ti t mới cần phải tranh luận, đối đáp thêm.

Lời nói sau cùng, bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị can, bị cáo, người tham gia tố t ng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật Tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố t ng khác không có ý ki n hoặc khi u nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong v án đều hợp pháp.

Về hành vi, quy t định tố t ng của Cơ quan điều tra Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố t ng khác không có ý ki n hoặc khi u nại về hành vi, quy t định của cơ quan ti n hành tố t ng, người ti n hành tố t ng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quy t định tố t ng của Cơ quan ti n hành tố t ng, người ti n hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị hại Trần Văn L đã được Tòa án tống đạt, triệu tập hợp lệ và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh L có đơn yêu cầu về vấn đề bồi thường thiệt hại và đã có lời khai trong quá trình điều tra, xét việc anh L vắng mặt không làm ảnh hư ng đ n quá trình xét xử nên căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố t ng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn ti n hành xét xử v án.

Nhận định hành vi và điều khoản áp d ng:

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Thanh N khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan, ghi hình từ camera và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập, nên có đủ cơ s k t luận:

Vào khoảng 02 giờ ngày 15/7/2021, tại nhà số 329/2B LHP, Phường ML, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Nguyễn Thanh N có hành vi lén lút chi m đoạt các tài sản của anh Trần Văn L gồm: 01 xe gắn máy biển số 59L2-655.89; 01 điện thoại di động hiệu Galaxy A01 và số tiền 1.000.000 đồng được kẹp phía sau ốp lưng điện thoại.

Tại bản k t luận định giá tài sản số 187/KL-HĐĐGTS ngày 27/7/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng hình sự Quận 8 k t luận: 01 xe gắn máy hiệu Honda, loại Dream II, màu nâu, biển số 59L2-655.89 trị giá 3.380.000 đồng và k t luận định giá tài sản số 285/KL-HĐĐGTS ngày 17/12/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng hình sự Quận 8 k t luận 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A01, dung lượng 16GB có giá là 1.110.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị cáo chi m đoạt là 5.490.000 đồng. Như vậy, bị cáo Nguyễn Thanh N đã có hành vi “trộm cắp tài sản của người khác có trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng”, nên bị cáo bị truy tố và xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đ n quyền s hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội nên cần phải xử phạt bị cáo với mức án tương xứng thì mới có tác d ng giáo d c riêng, răn đe và phòng ngừa chung.

Việc áp d ng hình phạt, tình ti t tăng nặng, giảm nhẹ: Tại bản án số 267/2015/HSST ngày 26/11/2015, Tòa án nhân dân Quận 8 xử phạt bị cáo 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chưa được xóa án tích nay lại phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp “tái phạm”, là tình ti t tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngoài ra, bị cáo còn có 01 tiền sự về việc áp d ng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ s cai nghiện bắt buộc, theo quy t định số 356/QĐ-TA ngày 02/8/2018 của Tòa án nhân dân Quận 8; ngày 12/7/2011, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận 8 ra quy t định đưa vào cơ s chữa bệnh bắt buộc. Hội đồng xét xử nhận thấy, bị cáo đã từng bị k t án về hành vi trộm cắp tài sản, đã được giáo d c, răn đe nhưng không sửa chữa mà ti p t c phạm tội, điều này thể hiện bị cáo có thái độ chấp hành pháp luật không tốt. Do đó, cần phải có mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo.

Tuy nhiên, khi lượng hình, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp d ng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Từ đó, Hội đồng xét xử xem xét áp d ng điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét quy t định hình phạt đối với bị cáo, đồng thời cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị hại có đơn yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 11.000.000 đồng. Xét thiệt hại xảy ra là do hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời, tại phiên toà, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền trên cho bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về xử lý vật chứng: Do tài sản bị chi m đoạt không thu hồi được nên không có cơ s để xem xét. Đối với 01 USB chứa dữ liệu hình ảnh camera do anh L giao nộp, hiện đang lưu giữ theo hồ sơ v án, xét đây là chứng cứ có giá trị chứng minh tội phạm và anh L không yêu cầu nhận lại nên ti p t c lưu giữ theo hồ sơ v án.

[8 Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đ n 50.000.000 đồng. Nhưng xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh t gia đình khó khăn và khó thi hành nên Hội đồng xét xử không áp d ng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với đối tượng mua tài sản do bị cáo phạm tội mà có, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai không bi t lai lịch của đối tượng này, không quen bi t và không nhận dạng được, Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét trong v án này.

Từ những phân tích trên đây, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[11 Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 2, Điều 6 Luật phí, lệ phí; Điều 3, Điều 21, Điều 23, Điều 26 Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc Hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/10/2021.

- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các điều 584, 585, 586, 587, 590, 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Luật Thi hành án Dân sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Thanh N bồi thường thiệt hại về tài sản cho anh Trần Văn L số tiền 11.000.000 (mười một triệu) đồng. Thi hành việc bồi thường một lần, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

- Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố t ng hình sự năm 2015; Điều 2, Điều 6 Luật phí, lệ phí; Điều 3, Điều 21, Điều 23, Điều 26 Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Thanh N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 550.000 (năm trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quy t định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng ch thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, cơ quan Thi hành án chủ động ra quy t định thi hành án, bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, n u bị cáo chưa thi hành đầy đủ khoản tiền bồi thường thiệt hại về tài sản theo mức nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại các điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án, thời hạn kháng cáo là 15 ngày. Bị cáo có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày tuyên án; đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm y t theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ