vanban.org

Bản án 70/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị K về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với bị đơn ông Trần Thanh N như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị K được ly hôn với ông Trần Thanh N. Về con chung: Giao con chung tên Trần Thị Bích T, sinh ngày 10/01/2007 và Trần Thị Mỹ Q, sinh ngày 23/7/2008 cho bà Lê Thị K trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị K về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với bị đơn ông Trần Thanh N như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 26-8-2022
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Sơn Tây;

2. Ông Nguyễn Đăng Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Võ Anh Duy – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tân Uyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 119/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2022 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2022/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị K, sinh năm 1987; thường trú: Số 65B ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; tạm trú: Nhà trọ B thuộc tổ 4, khu phố T, phường H, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Trần Thanh N, sinh năm 1984; thường trú: Số 65B ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; tạm trú: Nhà trọ B thuộc tổ 4, khu phố T, phường H, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/5/2022, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị K trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà K và ông N tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 55/2008 ngày 18/4/2008.

Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, vợ chồng không đồng cảm. Ông N nhiều lần nhắn tin với người phụ nữ khác. Hai vợ chồng đã nhiều lần cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Hiện tại tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục sống chung với nhau. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên bà K mong muốn được ly hôn với ông N.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung là Trần Thị Bích T, sinh ngày 10/01/2007 và Trần Thị Mỹ Q, sinh ngày 23/7/2008. Hiện hai con đã nghỉ học và tự đi làm, đang sống chung với cha mẹ. Sau khi ly hôn, bà K yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn ông Trần Thanh N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông N thống nhất với ý kiến trình bày của bà K về quan hệ hôn nhân và những mâu thuẫn vợ chồng phát sinh trong quá trình chung sống. Ông N thừa nhận có nhắn tin với người phụ nữ khác nhưng hiện tại ông N đã biết lỗi và hứa sẽ thay đổi bản thân, yêu thương vợ con để cùng xây dựng gia đình hạnh phúc. Ông N không đồng ý ly hôn, mong muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng chăm lo cho con.

Về con chung: Ông N không đồng ý ly hôn nên không yêu cầu giải quyết về con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân phường H, thị xã T, tỉnh Bình Dương xác định về mâu thuẫn vợ chồng của bà K và ông N thì chính quyền địa phương không rõ do các đương sự không trình báo địa phương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định.

- Về nội dung vụ án: Mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, ông N không đồng ý ly hôn nhưng không có biện pháp hàn gắn tình cảm, bà K kiên quyết xin ly hôn. Bà K xin được trực tiếp nuôi con và các con có nguyện vọng sống với mẹ. Yêu cầu khởi kiện của bà K là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình mà bị đơn cư trú tại thị xã Tân Uyên và nguyên đơn đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên giải quyết. Căn cứ vào Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị K và ông Trần Thanh N có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp theo Giấy chứng nhận kết hôn số 55/2008 ngày 18/4/2008, là hôn nhân hợp pháp.

Bà Lê Thị K xác định nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp, ông N thường xuyên nhắn tin với người phụ nữ khác, không quan tâm chăm sóc vợ con, vợ chồng thường xuyên cãi vã, bà K đã nhiều lần tha thứ để giữ gìn hạnh phúc nhưng không có kết quả. Nay tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà K yêu cầu ly hôn với ông N.

Bị đơn ông Trần Thanh N không đồng ý ly hôn với bà K vì ông còn yêu thương vợ con, mong muốn vợ chồng hàn gắn. Nếu vợ chồng đoàn tụ, ông N hứa sửa chữa lỗi lầm để cùng xây dựng gia đình.

Xét thấy, bà K cho rằng mâu thuẫn vợ chồng là trầm trọng, bị đơn ông N không thừa nhận nhưng cũng không đưa ra được biện pháp nào để vợ chồng đoàn tụ và hiện tại vợ chồng đã không còn sống chung nhà, mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm nhau. Do đó, có thể xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà K và ông N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà K yêu cầu ly hôn với ông N là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung là cháu Trần Thị Bích T sinh, ngày 10/01/2007 và cháu Trần Thị Mỹ Q, sinh ngày 23/7/2008. Hai cháu đều là nữ, đang trong độ tuổi dậy thì, thay đổi tâm sinh lý nên cần có sự quan tâm, chăm sóc trực tiếp của mẹ. Đồng thời, hai cháu có nguyện vọng được sống với mẹ. Do đó, việc bà K yêu cầu được trực tiếp nuôi con là có căn cứ chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà K không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con. Đây là ý chí tự nguyện của nguyên đơn.

Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị K về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với bị đơn ông Trần Thanh N như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị K được ly hôn với ông Trần Thanh N.

- Về con chung: Giao con chung tên Trần Thị Bích T, sinh ngày 10/01/2007 và Trần Thị Mỹ Q, sinh ngày 23/7/2008 cho bà Lê Thị K trực tiếp nuôi dưỡng.

Bà Lê Thị K và ông Trần Thanh N đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Trần Thanh N không phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị K phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0006010 ngày 27/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ