vanban.org

Bản án 70/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị Quách Thị T được ly hôn anh Trịnh Văn A.

Về con chung: Giao cháu Trịnh Thị Huyền T, sinh ngày 12/02/2009 và Trịnh Văn T, sinh ngày 23/11/2013 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh A không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T. Anh A có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án Ly hôn giữa chị Quách Thị T và anh Trịnh Văn A"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Quách Thị T được ly hôn anh Trịnh Văn A.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠCH THÀNH
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 14/9/2022
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Hà

2. Bà Ngô Thị Ân

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hiên - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét 2022 về: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Quách Thị T; Sinh năm: 1990

Địa chỉ: thôn Y, xã B, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt (Có đơn

xin xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Anh Trịnh Văn A; Sinh năm: 1981

Nơi đăng ký Hộ khẩu thường trú: thôn Y, xã B, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.

Hiện đang chấp hành án tại: Phân trại số 6, Trại giam Thanh Lâm, Cục C10, Bộ Công an. (Địa chỉ: Xã Xuân Hòa, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa).

Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Quách Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Trịnh Văn A kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 12/5/2009. Sau khi kết hôn, vợ chồng hòa thuận đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do anh A là người không chịu khó làm ăn mà ham chơi bời, bạn bè nên đã dẫn thân vào con đường phạm tội và đang phải đi chấp hành án với mức án là 13 (Mười ba) năm tù về tội Trộm cắp tài sản và Cướp tài sản. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh A.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Trịnh Thị Huyền T, sinh ngày 12/02/2009 và Trịnh Văn T, sinh ngày 23/11/2013. Ly hôn, chị T nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả 02 con và không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Về tài sản: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 20/8/2022, anh Trịnh Văn A trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị Quách Thị T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn, vợ chồng hòa thuận đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tình tình vợ chồng không hòa hợp, không cùng chung quan điểm sống nên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Đến năm 2014 thì anh phạm tội Trộm cắp tài sản và cướp tài sản, bị xử phạt 13 năm tù, từ đó thì vợ chồng sống ly thân. Nay chị T làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh, anh cũng đồng ý ly hôn với chị T.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Trịnh Thị Huyền T, sinh ngày 12/02/2009 và Trịnh Văn T, sinh ngày 23/11/2003. Ly hôn, anh đồng ý giao cả 02 con cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T.

Về tài sản: Anh A không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Tòa án đã xác định đúng quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của các đương sự trong vụ án. Từ giai đoạn thụ lý vụ án cho đến khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án cũng như các thành viên của Hội đồng xét xử ( Sau đây viết tắt là HĐXX) và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (Sau đây viết tắt là BLTTDS). Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của BLTTDS.

Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; Về hôn nhân: Xử cho chị Quách Thị T được ly hôn anh Trịnh Văn A; Về con chung: Giao cháu Trịnh Thị Huyền T, sinh ngày 12/02/2009 và Trịnh Văn T, sinh ngày 23/11/2013 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh A không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân và gia đình có con chưa thành niên và trong quá trình giải quyết vụ án, do các bên đương sự chưa thống nhất được các vấn đề tranh chấp trong vụ án nên Tòa án đã tiến hành xác minh để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp theo khoản 3 Điều 208 BLTTDS và đã thông báo kết quả thu thập tài liệu chứng cứ cho các bên đương sự cũng nhưng viện kiểm sát được biết.

. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự, nhưng anh A xin vắng mặt nên tòa án đã mở phiên họp kiểm tra viêc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vắng mặt anh A và đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ cho anh A theo khoản 3 Điều 210 BLTTDS.

. Cả chị T và anh A có đơn đề nghị không tiến hành hòa nên Tòa án không tiến hành hòa giải được, đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 BLTTDS.

. Tại phiên tòa hôm nay, chị T và anh A vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 BLTTDS, tòa án xét xử vắng mặt chị T và anh A.

. Về hôn nhân: Chị Quách Thị T và anh Trịnh Văn A kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 12/5/2009 và không vi phạm các cấm của Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Sau ngày cưới, vợ chồng hòa thuận đến năm 2013 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do anh A ham chơi bời, bạn bè và không quan tâm đến gia đình và vợ con. Hiện tại, anh A đang phải đi chấp hành án phạt tù tại trại giam Thanh Lâm. Việc này, bản thân anh A cũng thừa nhận và được các cấp chính quyền xã Thạch Bình xác nhận đồng thời cũng phù hợp với nội dung Biên bản xác minh tình trạng hôn nhân mà tòa án đã tiến hành thu thập. Nay cả chị T và anh A đều yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn. HĐXX nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Quách Thị T được ly hôn anh Trịnh Văn A.

. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Trịnh Thị Huyền T, sinh ngày 12/02/2009 và Trịnh Văn T, sinh ngày 23/11/2013. Ly hôn, cả chị T và anh A đều yêu cầu giao cả hai con cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh A không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó, chấp nhận yêu cầu của chị T và anh A.

. Về tài sản: Chị T và anh A không yêu cầu nên hội đồng xét xử không xem xét..

. Về án phí: Chị T phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 1 điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu án phí và lệ phí Toà án.

Về hôn nhân: Xử cho chị Quách Thị T được ly hôn anh Trịnh Văn A.

Về con chung: Giao cháu Trịnh Thị Huyền T, sinh ngày 12/02/2009 và Trịnh Văn T, sinh ngày 23/11/2013 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, anh A không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T.

Anh A có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Về án phí: Chị Quách Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí

dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền chị T đã nộp tạm ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự Thạch Thành, theo biên lai số: AA/2021/0007699, ngày 18/7/2022 .Chị T đã nộp đủ tiền án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt chị Quách Thị T, vắng mặt anh Trịnh Văn A. Chị T và anh A có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ