- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình giữa chị P và anh T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đỗ Thu P được ly hôn anh Vũ Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 70/2022/HNGĐ-ST Ngày 20 tháng 9 năm 2022 “V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Doanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đào Duy Thiều;
2. Ông Phạm Văn Diễn.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Gien Ny - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Vũ Công Huân - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 155/2021/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2022 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2022/QĐXX-ST ngày 30/8/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2022/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thu P, sinh năm 1996
Đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn P, xã A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: Số nhà X, đường T, quận K, thành phố Hải Phòng.
- Bị đơn: Anh Vũ Văn T, sinh năm 1992
Nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình
(Chị P có mặt, anh T vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu chứng cứ đã xuất trình thì nguyên đơn chị Đỗ Thu P có yêu cầu khởi kiện và trình bày tại phiên tòa như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thu P kết hôn với anh Vũ Văn T trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình vào ngày 18/3/2020. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại xã A và lao động tự do. Quá trình chung sống đến tháng 5/2022 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp bất đồng quan điểm sống. Chị P đã về nhà bố mẹ đẻ ở từ tháng 5/2022 đến nay, vợ chồng ly thân từ đó. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, Chị P đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị P trình bày vợ chồng không có con chung, hiện tại chị cũng không có thai nghén gì.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Bị đơn anh Vũ Văn T vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
- Tại biên bản xác minh với gia đình anh T thể hiện:
Chị Đỗ Thu P và anh Vũ Văn T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn vào ngày 18/3/2020. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị Phương, anh T sống cùng gia đình bà. Quá trình chung sống vợ chồng chị Phương, anh T có phát sinh mâu thuẫn. Chị P và anh T đã ly thân từ tháng 5/2022 cho đến nay. Về con chung: Chị P và anh T không có con chung. Về tài sản chung: Vợ chồng chị Phương, anh T không có tài sản chung.
Anh T vẫn đăng ký hộ khẩu tại Thôn T, xã A, huyện Q. Hiện nay anh T làm nghề lao động tự do không cố định địa chỉ nhưng thường xuyên về nhà và liên lạc với gia đình bà. Gia đình bà đã nhận được các văn bản, quyết định tố tụng của Tòa án giao cho anh T và thông báo cho anh T biết. Quan điểm của anh T về việc Chị P xin ly hôn thì anh cũng đồng ý ly hôn. Về con chung: Vợ chồng không có con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, anh T đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh.
- Tại biên bản xác minh với cơ sở Thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình thể hiện:
Chị Đỗ Thu P và anh Vũ Văn T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã A vào ngày 18/3/2020. Quá trình chung sống vợ chồng chị Phương, anh T có mâu thuẫn hay không thì cơ sở thôn không nắm rõ. Nay Chị P có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Chị P và anh T không có con chung. Về tài sản chung: Cơ sở thôn không nắm rõ.
- Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình có quan điểm cho rằng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng. Bị đơn không tham gia tố tụng là thể hiện chấp hành chưa tốt pháp luật tố tụng dân sự. Về ý kiến giải quyết vụ án, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết theo hướng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngoài ra, nguyên đơn phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tranh chấp ly hôn giữa chị Đỗ Thu P và anh Vũ Văn T là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn có địa chỉ thường trú tại xã A, huyện Q nên Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn hiện không có mặt tại địa phương nhưng vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, không cung cấp cho nguyên đơn biết địa chỉ hiện nay ở đâu là thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo về việc thu thập được tài liệu, chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa… cho bị đơn nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc thu thập chứng cứ, xác minh về tình trạng hôn nhân và địa chỉ của bị đơn, vì vậy Viện kiểm sát tham gia phiên toà là đúng theo Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, quan hệ hôn nhân của chị Phương, anh T được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình vào ngày 18/3/2020 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn và chung sống được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 5/2022 đến nay, không hỏi han, chia sẻ với nhau. Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án, mặc dù biết được việc Chị P đề nghị ly hôn nhưng anh T không trực tiếp đến trình bày quan điểm với Tòa án. Điều này chứng tỏ anh T không có thiện chí hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. Như vậy có cơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Phương, anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phương, xử cho chị được ly hôn anh T là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ con chung: Chị Đỗ Thu P và anh Vũ Văn T không có con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đỗ Thu P không yêu cầu giải quyết, anh Vũ Văn T không có ý kiến trình bày nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Đỗ Thu P phải nộp án phí dân sự sơ thẩm; các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đỗ Thu P được ly hôn anh Vũ Văn T.
2. Về quan hệ con chung: Chị Đỗ Thu P và anh Vũ Văn T không có con chung.
3. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí: Chị Đỗ Thu P phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) Chị P đã nộp theo Biên lai thu số 0004769 ngày 22/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình được chuyển thành tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Đỗ Thu P có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Vũ Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ bản án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Bình; - VKSND huyện Quỳnh Phụ; - Chi cục THADS h. Quỳnh Phụ; - UBND xã A, huyện Q; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Quốc Doanh |