vanban.org

Bản án 70/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị V M được ly hôn anh Trần H Kh

Về con chung: Chị Nguyễn Thị V M và anh Trần H Kh không có con, nên không xem xét giải quyết Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị V M và anh Trần H Kh không có tài sản, không có nợ, nên không đặt ra xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị V M được ly hôn anh Trần H Kh
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHƯỚC LONG
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 70/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 29/7/2022
Về việc tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Đang

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Dương Thị Tú Phương

Bà Nguyễn Hồng Lành

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Vũ Loan – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 127/2022/TLST - HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2022, về việc: "Tranh chấp ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 135/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 113/2022/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2022, giữa:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị V M – sinh năm 1995. Địa chỉ: Ấp H, xã X, huyện Ph, tỉnh B.

Bị đơn: Anh Trần H Kh – sinh năm 1992. Địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện Ph, tỉnh B.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo trong quá trình tố tụng, nguyên đơn trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị M xác định chị và anh Kh cưới nhau năm 2018, hôn nhân do mai mối, có đăng ký kết hôn và được ủy ban nhân dân thị trấn Phước Long cấp Giấy chứng nhận kết hôn.

Do trước khi kết hôn chị M và anh Kh không có tình cảm. Trong ý định là muốn vun đắp tình cảm sau khi kết hôn. Tuy nhiên, trong thời gian sống chung nhà chẳng những không vun đắp được tình cảm, mà cả hai ngày càng có nhiều mâu thuẫn và xa lánh nhau, không quan tâm đến nhau mà không rõ nguyên nhân. Do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, nên chị M đã thuê nhà trọ ở riêng từ tháng 11 năm 2021 đến nay. Chị M xác định chị và anh Kh ngay từ khi cưới nhau đã không có tình cảm, không yêu thương nhau. Khi về sống chung cũng không phát sinh nghĩa vụ vợ chồng với nhau. Cuộc sống ngày càng có nhiều mâu thuẫn mà không rõ nguyên nhân. Nên chị M không thể tiếp tục sống chung nhà, không muốn tiếp tục cuộc hôn nhân không có tình cảm và cương quyết muốn ly hôn anh Kh.

- Về con: Chị M xác định chị và anh Kh không có con chung, không có con nuôi, không có con riêng, nên không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị M xác định chị và anh Kh không có tài sản chung, không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Lời trình bày của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn:

- Về hôn nhân: Anh Kh thống nhất trình bày của chị M. Tuy nhiên, anh không đồng ý ly hôn với các lý do sau: Hiện tại cha anh Kh cũng yếu hay bị đau nhứt khớp nên cần người chăm sóc, cha anh Kh cũng muốn chúng anh và chị M quay về xây dựng tổ ấm, đồng thời gia đình và bà con hai bên cũng không đồng ý cho anh và chị M ly hôn nhau; Bởi vì khi anh và chị M ly hôn sẽ làm ảnh hưởng đến uy tín gia đình hai bên. Hiện tại anh Kh không có phương án gì để chị M rút đơn khởi kiện, nên anh Kh mong được Tòa án hàn gắn hôn nhân cho anh và chị M.

- Về con, tài sản và nợ: Anh Kh xác định anh và chị M không có con, không có tài sản chung, không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long trình bày quan điểm:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán giao Thông báo thụ lý vụ án và gửi hồ sơ vụ án để Viện kiểm sát nghiên cứu chưa đúng quy định; Thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với đương sự: Từ khi tham gia tố tụng đến nay, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn Trần H Kh chưa chấp hành đúng quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án:

+ Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị V M ly hôn anh Trần H Kh;

+ Về con: Chị M và anh Kh không có con, không xem xét giải quyết.

+ Tài sản chung và nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết;

+ Chị M phải chịu án phí 300.000đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Sau khi nghe ý kiến phát biểu đề xuất của Kiểm sát viên; Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Khi chị M yêu cầu ly hôn anh Kh, anh Kh có nơi cư trú tại xã X, huyện Phước Long; Nên Tòa án nhân dân huyện Phước Long thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị M có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, anh Kh đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị M và anh Kh là phù hợp quy định tại Điều 227 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn:

- Chị M và anh Kh được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã cấp Giấy chứng nhận kết hôn; Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

- Xét thấy, tuy chị M và anh Kh tự nguyện kết hôn, nhưng do hôn nhân giữa chị M và anh Kh không được xây dựng bằng tình cảm của hai bên, trong suốt thời gian sống chung nhà chị M và anh Kh cũng không có tình cảm với nhau; Ngược lại cuộc sống ngày càng có nhiều mâu thuẫn và không thể vun đắp được tình cảm. Tại Tòa án anh Kh xác định không có phương án để hàn gắn hôn nhân với chị M. Từ đó cho thấy hôn nhân của anh, chị đang lâm vào tình trạng trậm trậm, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 19 và khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị V M đối với anh Kh, cho chị M được ly hôn anh Kh.

Về con: Chị M và anh Kh không có con, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản và nợ chung: Chị M và anh Kh không có tài sản chung, không có nợ chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp như Hội đồng xét xử phân tích nêu trên, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí Hôn nhân Gia đình sơ thẩm:

- Buộc chị Nguyễn Thị V M chịu án phí số tiền 300.000đ, chị M đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000đ, chuyển sang thu án phí.

- Anh Trần H Kh không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 5, 28, 35, 39, 92, 147, 227, 228, 244, 271, 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Điều 9, 19, 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị V M được ly hôn anh Trần H Kh

2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị V M và anh Trần H Kh không có con, nên không xem xét giải quyết

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị V M và anh Trần H Kh không có tài sản, không có nợ, nên không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

- Buộc chị Nguyễn Thị V M phải chịu án phí số tiền 300.000đ, chị M đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0005126 ngày 28 tháng 3 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long số tiền 300.000đ, chuyển thu án phí số tiền 300.000đ.

- Anh Trần H Kh không phải chịu án phí.

5. Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

6. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Cỡ chữ